NGUYỄN TẤT THÀNH GIA NHẬP VIỆT MINH

Nguyễn Tất Thành gia nhập nhóm chính trị Côn Minh

Năm 1940, tháng 5, Hồ Quang ( Nguyễn Tất Thành )  đến gặp 6 nhà chính trị Việt Nam lưu vong tại Côn Minh ( Hồi ký của Vũ Anh ).

*Chú giải :  Hồi ký của Trung tướng Vũ Anh ghi lại tình hình tổ chức  của các ông tại Vân Nam khi NTT mới đến tìm gặp ông vào khoảng tháng 2(?) năm 1940:

“Đến một ghế đá ông bảo tôi ngồi xuống và nhìn ra phía con đường phố chính.  Hỏi: – Hiện nay ở Vân Nam có những ai?  Tình hình Vân Nam như thế nào anh có nắm được không?  Tôi nói: – Ở Vân Nam hiện nay có anh Liệu (Phùng Chí Kiên), anh Hoàng Văn Hoan và Tôi.  Ba chúng tôi thành lập Bộ Hải ngoại.  

Anh Hoan vừa công tác vừa đi học nghề thợ may.  Anh Liệu phụ trách tờ báo lấy tên Đ.T (Đồng Thanh).  Tôi vừa lái xe lấy tiền chi phí cho các anh ấy vừa làm đầu mối giao thông đi các nơi.  Thỉnh thoảng rỗi tôi giúp anh Liệu in báo.  Bộ Hải ngoại có một cơ quan bí mật cách hiệu Vĩnh An Đường hơn 3 cây số. 

Bên cạnh Bộ Hải ngoại còn có chi bộ Vân Quý do tôi làm bí thư.  Anh Đồng và anh Giáp mới từ bên nước sang.  Hai anh ở nhà anh Hà là người Trung Quốc cùng với anh Cao Hồng Lãnh, gần hiệu Vĩnh An Đường…”.(Vũ Anh, Những Ngày Gần Bác, tập hồi ký Đầu Nguồn, 1977, trang 102).

Như vậy thì mãi đến tháng 2 năm 1940 ông Nguyễn Tất Thành mới mon men gặp các nhà hoạt động cách mạng Việt Nam. ( Thực ra là tháng 5, bởi vì hồi ký của Võ Nguyên Giáp và hồ sơ của mật vụ Pháp cho biết VNG vượt biên giới Việt Trung vào tháng 5 ).  Lúc đó phía Nguyễn Tất Thành chỉ có một mình ông và phía bên đối tác của ông thì có sẳn một nhóm 3 người Cọng sản tự lập ra“Bộ Cọng sản Hải ngoại”.  Bộ Cọng sản này không hề liên lạc với ĐCSĐD ở trong nước cũng như không có một đảng viên nào khác, coi như là một đảng Cọng sản biệt lập gồm có ba người.

Ngoài ba ông Cọng sản này, Nguyễn Tất Thành còn gặp Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp là 2 nhà báo hoạt động chính trị chạy nạn ruồng bắt của mật thám Pháp, hai ông này cũng không phải là CS;  và Cao Hồng Lãnh là một cựu đảng viên VNTNCMĐCH từng là sĩ quan  trong quân đội Trung Hoa đang tìm cách về nước.

 Còn tổ chức mà Vũ Anh gọi là Chi bộ Vân Quý chính là một chi bộ của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã ly khai với Việt Nam Quốc Dân Đảng Hải Ngoại của Vũ Hồng Khanh.  Chi bộ gồm có Bùi Văn Hoạch tức Bùi Đức Minh hay giáo Hoạch, Trần Ngọc Tuân tức Trần Quốc Kính hay giáo Tuân, Vương Thừa Vũ tức Nguyễn Văn Đồi, Lê Tùng Sơn tức Lê Tùng Anh, Bùi Ngọc Thành và Đặng Văn Cáp.

Nhóm này theo Nguyễn Thái Học khởi nghĩa năm 1930, bị thất bại được Vũ Tiến Lữ hướng dẫn chạy sang Vân Nam gặp Nguyễn Thế Nghiệp là đảng Phó của VNQDĐ đang gom góp các đảng viên và chỉnh đốn lại hàng ngũ VNQDĐ tại hải ngoại.

Năm 1932-1933 Nghiệp gởi Bùi Ngọc Thành, Bùi Văn Hoạch, Lê Tùng Sơn và Vương Thừa Vũ theo học trường Võ Bị Côn Minh của Trung Hoa.  Năm 1936 Nguyễn Thế Nghiệp trở về Việt Nam, những người còn lại ly khai khỏi VNQDĐ của Vũ Hồng Khanh và hoạt động độc lập, lấy tên là nhóm Thiết Huyết.

Năm 1940, tháng 7. Sau khi gặp gỡ các đồng chí tại Côn Minh, NTT hứa hẹn sẽ gởi ông Phạm Văn Đồng và ông Võ Nguyên Giáp theo học trường Quân Chính của Cọng sản Trung Hoa tại Diên An.  Sau đó NTT trở về đơn vị, xin phép ĐCSTrung Quốc  cho ông về lại Hoa Nam để bắt liên lạc với Việt Nam vì tình hình Việt Nam đang rất cần ông ( Tự truyện của ông HCM dưới tên T.Lan ).

Năm 1940, cuối tháng 7, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến và Trần Văn Kiệt bị bắt tại Hóc Môn, Gia Định.

Bắc Sơn Khởi nghĩa, Nam Kỳ Khởi nghĩa và Đô Lương khởi nghĩa

Năm 1940, ngày 30-8, quân đội Nhật ép buộc Toàn quyền  Decoux phải ký một thỏa ước chấp thuận cho quân đội Nhật được vào Việt Nam và di chuyển tự do trong lãnh thổ Đông Dương nhưng không quá 6.000 quân.  Tuy nhiên đến ngày 22-9 thì Decoux bị buộc phải chấp nhận cho 25.000 quân Nhật đổ bộ vào Đông Dương và được quyền sử dụng một số sân bay tại Đông Dương.

Năm 1940, ngày 22 – 9, quân Nhật từ Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn.  Quân Pháp do tướng Mennerat chỉ huy, chận đánh tại biên giới.  Sau 2 ngày đánh nhau, quân Pháp kéo cờ hàng.  Tướng Mennerat dẫn quân chạy về Hà Nội theo ngã Bắc Sơn.

Năm 1940, ngày 25-9, quân Pháp tại Lạng Sơn rút về Hà Nội theo ngã Bắc Sơn, Thái Nguyên.  Sau khi quân Pháp qua khỏi thị trấn Bắc Sơn, một thủ lãnh của Đảng Cọng sản Đông Dương là Chu Văn Tấn chủ động nổi dậy cướp chính quyền ở Bắc Sơn ngày 27-9, thành lập chính quyền cách mạng tại đây.

Chu Văn Tấn là một thượng sĩ chỉ huy một trung đội lính dõng của Pháp nhưng được Bí thư Xừ ủy Bắc Kỳ là Hoàng Văn Thụ kết nạp vào ĐCSĐD từ trước.  Nhận được tin của Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thụ cử Trần Đăng Ninh đến Bắc Sơn phụ giúp Chu Văn Tấn.

Năm 1940, ngày 28-10, sau khi đạt được thỏa thuận với quân Nhật, quân Pháp từ Hải Phòng theo Quốc lộ 4 lên tái chiếm Lạng Sơn, dẹp tan chính quyền cách mạng tại Bắc Sơn.   Chu văn Tấn, Trần Đăng Ninh chạy về Pác Bó thuộc tỉnh Cao Bằng.

Năm 1940, ngày 6-11.  Sau khi Chu Văn Tấn cướp được chính quyền Bắc Sơn, một cuộc họp cấp Trung ương ĐCSĐD diễn ra tại làng Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh.  Hội nghị gồm có 5 người là Hoàng Văn Thụ, Trần Đăng Ninh, Đặng Xuân Khu, Hạ Bá Cang, Phan Đăng Lưu (Hồi ký của Hoàng Quốc Việt).  Hội nghị bầu Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) làm Tổng bí thư lâm thời, thay thế Nguyễn Văn Cừ bị bắt hồi đầu năm .

* Chú giải :  Sau này Ban nghiên cứu lịch sử Đảng đã tính đây là “Đại hội 7 Trung ương” bởi vì các ông đã quyết định bầu ông Đặng Xuân Khu làm “Quyền tổng bí thư”.  Nhưng các nhà nghiên cứu sử không tin như vậy.  Bởi vì cuộc họp này chỉ có Hoàng Văn Thụ là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ và Phan Đăng Lưu là Thường vụ Trung ương Đảng thì không hội đủ diều kiện để họp Trung ương đảng hoặc bầu ban chấp hành Trung ương.

Năm 1940, ngày 22-11, Phan Đăng Lưu về tới Sài Gòn thì Xứ ủy Nam Kỳ đã cho phát động nổi dậy trước đó 2 ngày và đã bị mật thám Pháp biết trước nên rình đón Phan Đăng Lưu tại ga Sài Gòn.  Lưu bị bắt ngày 23-11-1940, trước giờ hẹn tổng nổi dậy có vài tiếng đồng hồ.

Năm 1940, từ ngày 23-11 đến ngày 2-12, Xứ ủy Nam Kỳ của ĐCSĐD đã tổ chức tổng nổi dậy tại 11 tỉnh và ngoại ô Sài Gòn. Tấn công 3 đồn lính ở ngoại ô Sài Gòn, 1 đồn tại Cần Thơ, 1 đồn tại Chợ Lớn, 1 đồn tại Gia Định, 3 đồn tại Mỹ Tho, 1 đồn tại Sóc Trăng, 1 đồn tại Tân An, 3 đồn tại Vĩnh Long.  Tổ chức nổi dậy tại 21 làng, 2 cầu bị phá hủy, giết 3 người Pháp, 13 lính Việt và 4 dân sự Việt. Cướp mang đi 63 súng và 298 viên đạn.  Phía Cọng sản có 16 người chết, 21 bị thương và hơn 600 bị bắt.

Năm 1941, ngày 13-1, Trung sĩ Nguyễn Văn Cung là một hạ sĩ quan chỉ huy lính Khố xanh tại đồn Chợ Rạng thuộc tỉnh Nghệ An cùng binh sĩ thuộc quyền nổi dậy cướp chính quyền tại huyện Đô Lương, tính cướp ngục Vinh ( Nghệ An ) giải thoát cho tù chính trị nhưng bị quân Pháp đánh bại.

Ngày 11-2 thì Đội Cung cùng các chiến hữu bị bắt.  Ngày 18-2, tòa án binh  Hà Nội xử tử hình Đội Cung cùng 10 người khác, ngoài ra có 12 người bị chung thân khổ sai, 24 người bị án tù từ 5 năm tới 20 năm khổ sai.  Ngày 26-4 xử bắn 11 người tại Đô Lương.  Đội Cung không dính dáng gì đến ĐCSĐD.

Năm 1941, ngày 28-8, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần bị xử bắn tại Bà Điểm, Gò Vấp, Gia Định.  Một năm sau, ngày 6-9-1942 Lê Hồng Phong chết tại Côn Đảo.

BÙI ANH TRINH

Advertisements

1 cảm nghĩ về “NGUYỄN TẤT THÀNH GIA NHẬP VIỆT MINH”

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s