NĂM 1944 ÔNG HỒ CHÍ MINH XIN ĐỊNH CƯ TẠI HOA KỲ

Trích sách “Chuyện Nước Non Đau Lòng Tới Nghìn Năm” của Bùi Anh Trinh, do Làng Văn phát hành năm 2008 . Nhằm giúp cho khán giả xem phim “Một cơ hội bị bỏ lỡ” hiểu rõ hơn về sự cọng tác giữa tình báo Hoa Kỳ và ông Hồ Chí Minh vào các năm 1944-1945

PHẦN 1 :

Nguyễn Tất Thành trở lại Trung Hoa và bị bắt

Nàm 1942, tháng 7. Từ Pác Bó Nguyễn Tất Thành trở lại Côn Minh tỉnh Vân Nam, Trung Hoa. Không ai biết mục đích của chuyến trở về này nhưng có lẽ là để chữa bệnh và tránh nạn càn quét của quân đội Pháp, ông ở lại Pác Bó chẳng giúp ích được gì mà trái lại, trở thành một gánh nặng cho những người phải bảo vệ ông.

Tại Quý Dương, người nhà của cụ Hồ Học Lãm đưa giấy tờ cá nhân của cụ Hồ Học Lãm cho ông Thành sử dụng để qua mắt nhà cầm quyền Trung Hoa vì cụ Lãm mới chết hồi đầu năm nên không dùng tới những giấy tờ đó nữa. Từ năm 1940 cụ Lãm đã lấy tên hiệu để làm tên giấy tờ, tên hiệu của cụ Hồ Học Lãm là Hồ Chí Minh .

Năm 1942, ngày 29 tháng 8, trên đường đi Quế Lâm tỉnh Quảng Đông, Nguyễn Tất Thành bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt khi đi ngang qua Túc Vinh tỉnh Quảng Tây, ông xuất trình giấy tờ là một công dân của Trung Hoa tên Hồ Chí Minh, trong đó có một thẻ phóng viên nhà báo cũng tên Hồ Chí Minh. Nhà cầm quyền Trung Hoa không tin, nghi ông là gián điệp của Nhật, giam tại một trại giam trong hóc núi ở Liễu Châu ( Ngày tháng ông Nguyễn Tất Thành bị bắt là do căn cứ theo ngày tháng ghi trong tập thơ Ngục Trung Nhật Ký, nhưng thực ra nguyên bản của Ngục Trung Nhật Ký ghi là ngày 29-8-1932, sau này ông Phạm Văn Đồng cho sửa lại thành 1942 cho phù hợp với năm ông Hồ Chí Minh bị bắt. Do đó ngày 29-8-1942 là một ngày không có thật ).

Năm 1942, đầu năm, Nguyễn Tường Tam chạy qua Trung Hoa, đổi tên là Nguyễn Tường Dũng. Tháng 11 năm 1943 ông bị nhà cầm quyền Trung Hoa bắt tại Liễu Châu vì nghi làm gián điệp cho Nhật, họ tạm giam ông trong một hang núi. Tại đây ông gặp một người tên là Hồ Chí Minh, xưng là người của “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” đang tìm đường về nước thì bị bắt.

Stalin giải tán Đảng Cọng sản Quốc tế

Năm 1943, ngày 15-5, sau khi Đức tiến quân đánh chiếm Nga, Staline tuyên bố gải tán tổ chức CSQT. Sau đó chỉ thị cho Mao Trạch Đông liên kết với Tưởng Giới Thạch để chống Nhật. Đồng thời Tưởng Giới Thạch cũng bị sức ép của Mỹ buộc phải hòa hoãn với phe Cọng sản và liên kết với Mao để chiến đấu chống Nhật. Từ đó những người bị giam vì tình nghi theo Cọng sản đều được thả.

* Chú giải :Ông Nguyễn Tất Thành và Cọng sản Quốc tế

Tin tức giải tán tổ chức Cọng sản Quốc tế hoàn toàn không gây một chú ý nào đối với dân tộc Việt Nam. Nhưng có một người Việt Nam đang nằm trong trại tù đón nhận tin này với nổi niềm cay đắng. Đó là ông NTT. Đến lúc này thì mọi mộng ước của ông xây dựng trên tinh thần Quốc tế Vô sản chỉ còn là một giấc mơ. Ông đã bỏ ra quá nhiều công sức cho chủ nghĩa Cọng sản nhưng rốt cuộc thì ông không còn gì. Ông chẳng hưởng được một ân huệ nào của Quốc tế Cọng sản, nhưng ngược lại, Cọng sản nợ ông suốt một đời theo đuổi và phục vụ. Giờ đây, khi mà Stalin hiện nguyên hình là một tay “Quốc gia cực đoan” chẳng khác gì Hitler thì lý tưởng Cọng sản chỉ là lý thuyết suông của ông Karl Marx và Angel. Và riêng đối với ông thì chủ nghĩa Cọng sản chỉ còn là kỷ niệm của một thời trai trẻ đầy hy vọng.

Tự trong lương tâm, ông có thể nói lời từ giả với học thuyết Cọng sản là một thứ học thuyết mà ông chẳng thể nào hiểu nổi. Trước đây vì trình độ học thức có hạn cho nên ông theo đuổi nó như một tín đồ theo đuổi các buổi truyền giảng của các đấng tiên tri. Giờ đây đấng tiên tri đã tan biến, chỉ còn lại ông với nổi xót xa vì tan tành mộng ước. Buộc lòng ông phải chuyển hướng, chuyển theo ai thì ông chưa kịp suy nghĩ nhưng có lẽ chỉ còn Hoa Kỳ chứ không còn ai.

Hồ Chí Minh được thả và theo Tiêu Văn

Năm 1943, ngày 10-9, lãnh tụ Việt Nam QDĐ tại Trung Hoa là Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ đến Quân lao Liễu Châu để lãnh Nguyễn Tường Tam ra khỏi nhà giam. Trong dịp này Nguyễn Hải Thần nhờ hai ông bảo lãnh luôn HCM. Sau khi được thả, Minh và Tam tạm sống tại Liễu Châu. Tại đây Đại Tá Tiêu Văn của QDĐ Trung Hoa chuẩn bị đại hội cải cách Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội.

Nghiêm Kế Tổ rủ Minh và Tam ở lại tham dự đại hội. Trong khi chờ đợi, hai ông tạm trú tại nhà của Trương Trung Phụng là một lãnh tụ VNQDĐ. HCM tìm gặp Nguyễn Hải Thần, lúc này Thần mới biết Minh là Lý Thụy. ( Hồi ký của Nghiêm Kế Tổ và tùy bút của Nguyễn Tường Tam, và hồi ký của tướng CSVN Lê Tùng Sơn ).

Theo hồi ký của Nghiêm Kế Tổ thì lúc này cả Khanh và Tổ đều không biết rằng Hồ Chí Minh là tên giấy tờ của cụ Hồ Học Lãm, là người đã cùng các ông lập ra Việt Nam Độc lập Đồng Minh hội vào năm 1936. Lúc Nghiêm Kế Tổ đi lãnh Nguyễn Tường Tam thì Nguyễn Hải Thần có nhờ ông xác minh lại xem nhân vật Hồ Chí Minh là ai, nếu là người Việt Nam yêu nước thì lãnh ra luôn. Do đó khi được lời giới thiệu của Nguyễn Tường Tam thì Khanh và Tổ tin ngay rồi làm thủ tục lãnh hai ông Tam và Minh luôn một lượt.

Ngoài ra, theo hồi ký “Nhật ký một chặng đường” của Tướng CSVN Lê Tùng Sơn xuất bản tại Hà Nội năm 1978 thì Tướng Lý Tế Thâm chuyển HCM từ Quế Lâm trở về Liễu Châu, giao cho Văn phòng Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần tra cứu. So với hồi ký của Tướng Lê Tùng Sơn thì hồi ký của Nghiêm Kế Tổ nói rằng Nguyễn Hải Thần nhờ ông và Vũ Hồng Khanh đi lãnh Nguyễn Tường Tam và Hồ Chí Minh ra là đúng.

Năm 1944, ngày 25-3, Nguyễn Hải Thần, Trương Bội Công, Trương Trung Phụng, Nguyễn Tường Tam, Hồ Chí Minh và Nghiêm Kế Tổ tham dự đại hội các tổ chức chính trịViệt Nam lưu vong do Tướng Tiêu Văn ( mới được thăng cấp) triệu tập tại Liễu Châu tỉnh Quảng Tây. Sở dĩ có đại hội này vì lúc này Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông đã bắt tay với nhau để cùng chiến đấu chống Nhật. Mục đích của đại hội là cải tổ lại Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội vì từ nay nhận thêm sự tham gia của các tổ chức Cọng sản. Đại hội bầu thêm Nguyễn Văn Cơ (Lê Tùng Sơn) vào ban chấp hành và Hồ Chí Minh là dự khuyết.

Cuối đại hội Tướng Tiêu Văn cho biết ông dự định tổ chức một đội tình báo tại vùng Việt Bắc. Đơn vị này sẽ hướng dẫn quân đội Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) và quân đội Đồng Minh từ Hoa Nam tiến vào Việt Bắc, gọi là kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt”. Tiêu Văn hỏi các đại biểu rằng ai có thể tổ chức được đội quân này, chỉ có Hồ Chí Minh giơ tay. Tiêu Văn ghi nhận nhiệt tâm của Hồ Chí Minh và trình lên Tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh quân đội Trung Hoa tại Hoa Nam ( Đệ tứ quân khu ).

Hồ Chí Minh làm đơn xin định cư tại Hoa Kỳ

Năm 1944, ngày 28-8, Giám đốc Sở Thông Tin Chiến Tranh của Hoa Kỳ tại Côn Minh là William R.Powell gửi văn thư xin cho Ho Ting-ching (Hồ Chí Minh) một giấy nhập cảnh vào Hoa Kỳ để dịch những bản phát thanh từ San Francico qua Việt Ngữ. Tuy nhiên việc này bị từ chối ( Hồi ký Patti. Thời đó Hoa Kỳ mở một đài phát thanh phát sóng về Á Châu với nhiều thứ tiếng của các dân tộc Đông Nam Á, trong đó có cả tiếng Việt ).

* Chú giải : Đây là một bằng chứng cho thấy sự kỳ lạ của số mệnh.Cho tới ngày này, tháng 8 năm 1944, ông Hồ Chí Minh hoàn toàn không có ý trở về làm vua tại Việt Nam. Ông chỉ muốn làm một nhân viên dịch thuật các bản tin như ông đã từng làm tại Quảng Châu năm 1924 và tại Hồng Kông năm 1930. Lịch sử Việt Nam sẽ hoàn toàn khác đi nếu như lúc đó người ta chấp thuận cấp giấy phép nhập cảnh cho ông Hồ Chí Minh (!).

Trong khi đó thì các ông Đặng Xuân Khu, Hạ Bá Cang, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng đợi chờ ông Nguyễn Tất Thành mỏi cổ mà không ngờ là ông Thành đang toan tính bỏ cuộc, tìm đường sống an nhàn cho riêng mình.

Việc ông Hồ Chí Minh toan tính sang Mỹ làm ăn sinh sống đã chứng minh được lý do ông rời Bắc Pó ra đi vào mùa xuân năm 1942 không phải là để cầu viện Tưởng Giới Thạch mà chỉ là nhường nơi gian khổ lại cho những người từng bị ông lừa bịp như Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thụ v.v…Sau này ông viết tự truyện kể lại rằng ông bị bắt chỉ 15 ngày sau khi ông trở lại Trung Hoa và ông bị giam trong 12 tháng và 10 ngày. Thế nhưng ngày nay đã có nhiệu bằng cớ cho thấy ông không hoàn toàn bị giam trong suốt những ngày tháng đó; có thể ông chỉ bị giam trong 62 ngày .

Vậy thì những ngày còn lại ông ta làm gì? Đi đâu? Tại sao khi viết tự truyện ông không dám nói sự thật mà lại dối rằng ông bị bắt giam suốt hơn 1 năm? Và ông cũng không bao giờ nói tới tờ giấy hộ chiếu đi Mỹ. Tuy nhiên số mệnh lại tỏ ra kỳ lạ thêm một lần nữa; bởi vì sau khi tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Hoa Nam từ chối cấp hộ chiếu cho HCM thì 3 tháng sau Tướng Trương Phát Khuê lại cần đến ông.

Năm 1944, tháng 11. Quân đội Hoa kỳ cần gấp một đội quân Biệt Kích hoạt động tình báo tại vùng Việt Bắc, họ thúc giục tướng Trương Phát Khuê phải gởi toán tiền thám của chiến dịch Hoa Quân Nhập Việt vào Việt Nam. Do đó Tướng Tiêu Văn buộc Hồ Chí Minh phải về nước. Hồ Chí Minh nhận 76.000 quan tiền, cầm giấy giới thiệu của chủ tịch Việt Minh Trương Bội Công, dẫn 18 chuyên viên trở về Pác Bó; nhân danh các đảng phái cách mạng hải ngoại, gom góp thu phục các tổ chức và cá nhân yêu nước đang hoạt động tại tỉnh Cao Bằng, xưng danh tổ chức của mình là Mặt Trận Việt Minh.

* Chú giải : 18 người được Tiêu Văn cho phép HCM dẫn về Việt Nam là những người Việt vừa mới tốt nghiệp trường sĩ quan Đại Kiều, trong số đó có Hoàng Văn Thái, Đàm Quang Trung, Hoàng Minh Thảo, Nam Long, Vũ Lập, Bằng Giang, Đỗ Thị Lạc …( Lúc đăng ký theo học trường sĩ quan Đại Kiều thì các ông này lấy tên khác ).

Cùng về với HCM còn có rất nhiều nhân vật xuất sắc như Hoàng Văn Hoan, Lê Thiết Hùng, Cao Hồng Lãnh và toàn bộ nhóm Thiết Huyết gồm có Bùi Đức Minh, Lê Tùng Sơn, Đặng Văn Cáp, Bùi Ngọc Thành, Trần Ngọc Kính đều là những người có kinh nghiệm hoạt động cách mạng và từng tốt nghiệp Trường Võ Bị Côn Minh. Cao Hồng Lãnh và Lê Thiết Hùng tốt nghiệp trường Võ bị Hoàng Phố, từng là sĩ quan trong quân đội Tưởng Giới Thạch. Lại thêm những cán bộ trong toán Biệt kích của Trương Bội Công như Hoàng Sâm, Lê Quảng Ba từng là hạ sĩ quan trong quân đội của Pháp.

Với lực lượng cán bộ hùng hậu này và với triển vọng có Mỹ và Nga và Trung Hoa yểm trợ sau lưng, Hồ Chí Minh thực sự nắm chủ động tại căn cứ Pác Bó, nhất là trong tay ông có 76.000 quan tiền để làm chi phí nuôi quân.

Năm 1944, ngày 22-12, đội “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” được thành lập tại Cao Bằng, gồm 34 người, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Đây là đơn vị vũ trang đầu tiên của CSVN nên ngày này được chọn để kỷ niệm thành lập Quân đội. Thực ra lực lượng quân sự đầu tiên của CSVN là trung đội lính Dõng của Chu Văn Tấn trong cuộc cướp chính quyền tại Bắc Sơn năm 1940. Nhưng năm 1940 chưa có Việt Minh, tức là chưa có ông HCM cho nên trung đội của ông Tấn không được tính là đơn vị vũ trang đầu tiên.

Năm 1945, ngày 9-3, quân Nhật bị thua liên tục trên các mặt trận Châu Á Thái Bình dương, trong khi đó số lượng 35 ngàn tay súng Pháp tại Đông Dương trở thành một mối nguy cho quân Nhật tại Đông Dương. Vì vậy đêm 9-3-1945 quân Nhật bất thần tấn công quân Pháp tại Đông Dương. Cuộc đánh úp thành công nhanh chóng, đa số quân lính và công chức Pháp bị bắt làm tù binh.

Có một đơn vị Pháp bảo vệ biên giới Việt Hoa khoảng 5 ngàn người do Tướng Alessandri chỉ huy chạy lên Hoa Nam và về Miến Điện để phối hợp với quân Anh, lúc này quân Anh mới tái chiếm Miến Điện. Các toán tình báo quốc tế của Mỹ và Pháp tập trung tại Hoa Nam, mở rộng hoạt động chuẩn bị cho quân Đồng Minh tiến từ Miến Điện sang Hoa Nam để tấn công quân Nhật tại khu vực Hoa Nam. Máy bay Mỹ đánh bom các chuyến tàu tiếp tế của quân Nhật từ cảng Hải Phòng ngược sông Hồng lên Hoa Nam. Tướng Trương Phát Khuê, Tư Lệnh đệ Tứ quân khu tại Quảng Tây của Tưởng Giới Thạch được lệnh yểm trợ cho các toán tình báo của Đồng Minh hoạt động trong vùng Việt Bắc.

Hồ Chí Minh cọng tác với tình báo Hoa Kỳ

Năm 1945, tháng 3, Hồ Chí Minh trở lại Côn Minh dẫn theo một trung úy phi công Hoa Kỳ tên Wiliam Shaw, bị rớt máy bay trong vùng Cao Bằng. Ngày 17 tướng Trương Phát Khuê giới thiệu Hồ Chí Minh với đại úy Charles Fenn, trưởng toán tình báo OSS của Hoa Kỳ (Tiền thân của CIA). Sau 3 lần gặp, Charles Fenn kết nạp HCM làm nhân viên điệp báo của OSS với bí danh Lucius, bí số 19 (Bài viết của Robert Shaplen đăng trên báo The Reporter, số ra ngày 27-1-1955) . Sau đó thì Trung úy John và toán OSS nhảy dù xuống vùng Kim Lũng, Bắc Cạn để liên lạc với nhóm kháng chiến của Chu Văn Tấn ( Hồi ký “Đầu nguồn” của lãnh tụ CSVN Cao Hồng Lãnh ).

Năm 1945, ngày 29-3, Hồ Chí Minh xin gặp tướng Tư lệnh Không đoàn 14 của Hoa Kỳ tại Hoa Nam là Claire L.Chennault. Tướng Chenault tặng HCM một tấm ảnh có chữ ký để lưu niệm ( Hồi ký Patti. Tấm ảnh này sẽ chứng minh với dân chúng Việt Nam rằng ông HCM là người của Đồng Minh). Ngoài ra đại úy Fenn cũng tặng ông 6 khẩu súng Colt 45. ( Trong các ngày biểu tình cướp chính quyền tại Hà Nội. Các cán bộ cao cấp đi xung quanh HCM đeo 6 khẩu súng này khiến nhân dân Hà Nội càng tin rằng các ông là người của Hoa Kỳ ). Ngày 15-4 HCM trở lại Pác Bó.

Theo tài liệu của Bernard Fall thì người cấp cho ông Hồ Chí Minh 6 khẩu súng ngắn là Đại tá Paul Helliwell. Chỉ huy trưởng tình báo quân đội Hoa Kỳ tại Hoa Nam. Ông Helliwell cho Bernard Fall biết rằng rằng số súng ấy là để tạ ơn đã cứu viên phi công Mỹ. Ngoài ra Helliwell cũng cho biết ông HCM có nằn nì xin ông viện trợ vũ khí và quân dụng nhưng ông cương quyết từ chối vì lúc đó ông đã biết HCM và tổ chức của ông ta là Cọng sản.

Năm 1945, ngày 27-4, 12 ngày sau khi trở về Pác Bó, Hồ Chí Minh lại sang Tĩnh Tây để gặp chỉ huy trưởng OSS đặc trách Đông Dương là Đại úy Archimèdes L.A.Patti ( Hồi ký của Patti, có trưng tài liệu của chính phủ Hoa Kỳ và hình ảnh ).

Theo tài liệu của Robert Shaplen thì ông HCM có nhờ trung úy tình báo John của Hoa Kỳ chuyển cho trưởng toán tình báo Pháp tại Hoa Nam là Thiếu tá Sainteny một bức điện nhờ Sainteny thông báo với đại diện chính trị của De Gault tại Ấn Độ rằng tổ chức của ông ta sẵn sàng cọng tác với Pháp để cùng nhau đánh Nhật, với điều kiện sau đó trong vòng từ 5 năm tới 10 năm thì Pháp phải để cho Việt Nam được độc lập.

Hồ Chí Minh và toán tình báo Mỹ dời về Tân Trào

Năm 1945, ngày 4-5, Hồ Chí Minh dời căn cứ Pác Bó về làng Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang. Cùng đi có 2 điệp báo viên của OSS là Frank Tan và Mac Shin (Tài liệu của Viện Sử học CSVN, phát hành tại Hà Nội năm 2002).

Năm 1945, tháng 5, sau khi Hồ Chí Minh về Tuyên Quang, lực lượng quân sự tại vùng biên giới Cao Bằng – Lạng Sơn do Lê Thiết Hùng trấn giữ. Nhờ đã bắt tay trực tiếp với Hoa Kỳ cho nên HCM ra lệnh cho Lê Thiết Hùng và Hoàng Văn Hoan tìm mọi cách chận cánh quân Hoa Quân Nhập Việt của Tưởng giới Thạch tại biên giới. Chủ yếu là vận động dân chúng chôn cất lúa gạo, thực phẩm và tuyệt đối không tiếp xúc với quân lính Trung Hoa để quân đội Trung Hoa không có lương thực. Tung tin rằng quân đội Trung Hoa là quân thổ phỉ. Cấm người Việt gia nhập quân đội Trung Hoa.

Báo cáo của Tướng Tiêu Văn: “ Khoảng tháng 5 đến tháng 8 năm 1945, các cơ quan ngại vụ và kiều vụ của Chiến Khu 4 và Quân đoàn 62 Trung Hoa, từ Tĩnh Tây đã phái người vào Việt Nam hoạt động. Khi quân đội tiến vào, đã bị Việt Minh cản trở trên đường từ Cao Bằng qua Lạng Sơn, Bắc Giang. Các Hoa kiều không tuân hành lệnh vườn không nhà trống của họ cũng bị ngược đãi và giết hại” (Tiêu Văn, “Giải đáp vấn đề Việt Nam”. Tài liệu của Tưởng Vĩnh Kính, Thượng Huyền dịch).

Sở dĩ HCM ngăn chận quân của Tiêu Văn vì biết trong đoàn quân đó có Nguyễn Hải Thần và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, là những đối thủ nặng ký của HCM.

Năm 1945, tháng 5, Patti nhận được báo cáo của Hồ Chí Minh rằng đảng Đại Việt đang có kế hoạch đại khủng bố người Pháp.

Báo cáo của Hồ Chí Minh do trưởng toán tình báo Hoa Kỳ tại Cao Bằng là Trung úy John chuyển về Quảng Tây. Sau này vào năm 1955 nhà báo Robert Shaplen xin phép Trung úy John đăng trên báo The Reporter nguyên văn bức thư mà Hồ Chí Minh nhờ John chuyển cho Patti, trong đó có đoạn : “Tôi gửi anh một chai rượu vang, hy vọng anh thích nó. Hãy làm ơn cho tôi biết tin tức nước ngoài mà anh có…Hãy làm ơn chuyển cho cấp chỉ huy của anh 2 bức điện sau đây: (1) – Đảng Đại Việt đang có kế hoạch đại khủng bố người Pháp để đổ cho Việt Minh chúng tôi làm. Nhưng Việt Minh đã ra lệnh cho 2 triệu đoàn viên và tất cả dân chúng dưới quyền hãy canh chừng và ngăn chận không cho chúng tiến hành kế hoạch gây tội ác này khi nào có thể và nếu có thể được…”.

* Chú giải : So lại với các chứng liệu lịch sử thì thời đó đảng Đại Việt hoàn toàn không có kế hoạch khủng bố nào cả. Và lúc đó Việt Minh chỉ có 200 đoàn viên tại Tân Trào chứ không phải 2 triệu. Ngoài ra lúc đó Việt Minh cũng không có dân chúng dưới quyền vì họ chưa cướp chính quyền. Do đó những chi tiết mà Hồ Chí Minh nêu trong thư chỉ là chuyện bịp.

Nhưng vấn đề là ông bịp nhằm mục đích gì? Thứ nhất, đây là một cái cớ làm quà để moi tin tức Thế giới từ nơi cơ quan OSS mà phe đảng của ông nằm tại Tân Trào hoàn toàn mù tịt. Thứ hai là muốn vu cáo cho đối thủ của các ông là Mặt Trận Đại Việt Quốc Gia Liên Minh ( Không phải là đảng Đại Việt của Trương Tử Anh). Ông biết Bộ chỉ huy OSS tại Hoa Nam có cả tình báo Pháp, họ đang muốn liên lạc với một tổ chức dân quân tại Việt Nam để hướng dẫn quân Đồng Minh tiến vào Bắc Việt. Nhưng ông sợ Mỹ, Pháp sẽ liên lạc với một chính đảng đang hoạt động mạnh nhất tại Việt Nam là Mặt Trận Đại Việt Quốc Gia Liên Minh. Cho nên ông tung ra tin này nhằm ngăn chận việc tình báo Mỹ, Pháp có thể liên lạc với Đại Việt.

Bức thư này là một bằng chứng chứng minh tư cách đạo đức của ông HCM: ông không từ bất cứ một thủ đoạn gian ác nào. Hành động vu cáo này cũng chứng minh cho luận điệu vu cáo sau này, khi mà ông hô hoán trước nhân dân rằng đảng Đại Việt là lũ bán nước. Căn cứ vào lời hô hoán của ông mà “nhân dân” thẳng tay tàn sát những người theo Đại Việt. Cho tới ngày nay, sau 60 năm, vẫn còn có người tin rằng Đại Việt là một lũ bán nước.

Ngoài ra, trong tự truyện ký tên Trần Dân Tiên, ông Hồ Chí Minh cũng đã xác nhận : “…ngay hôm mồng 9 tháng 3, đã ban bố khắp nước, bản chỉ thị, nội dung như sau : Người Pháp không còn là kẻ thù của chúng ta nữa (sic), họ đã trở thành những người bị nạn. Vì tình nhân loại, toàn thể đồng bào, trước hết là hội viên Việt Minh phải cố gắng giúp người Pháp bị Phát xít Nhật bức hại”.

Với những đoạn trích dẫn này, lịch sử Việt Nam có đủ bằng cớ để chứng minh rằng, trước tháng 8 năm 1945, ông Hồ Chí Minh một lòng theo Pháp chứ không hề chống Pháp. Chẳng những một lòng theo Pháp, ông còn tự nguyện làm điềm chỉ để lấy điểm với người Pháp. Chẳng những làm một người điềm chỉ thường tình, ông còn là một người điềm chỉ gian, sẵn sàng dựng chuyện không thành có để lập công với người Pháp. Rõ ràng ông ta là một người bán nước chứ đâu phải là yêu nước (!).

Năm 1945, ngày 16-7, Patti gởi vào mật khu Tuyên Quang một toán OSS thứ hai do thiếu tá Allison K.Thomas chỉ huy. Trong toán có một Trung úy Pháp từng đồn trú tại Cao Bằng. Ngày hôm sau Thomas báo cáo rằng chỗ của Hồ Chí Minh có khoảng 200 tay súng, có thể sử dụng ngay 100 người. Thomas cũng cho biết HCM đề nghị gởi trả trở về 2 thông dịch viên một người Việt và một người Mỹ vì họ có sẳn thông dịch rồi. Đồng thời cũng yêu cầu trả về Trung úy người Pháp. Cuối báo cáo Thomas viết: “Bỏ qua chuyện nhảm rằng HCM là Cọng sản” (Hồi ký Patti).

Nhận xét của Thomas là một bằng chứng cho thấy ngay từ ngày đó người Mỹ đã ngại cọng tác với Cọng sản. Và đây cũng là một bằng chứng cho thấy vì sao Hồ Chí Minh không muốn nhận mình là một cán bộ Cọng sản.

Năm 1945, ngày 20-7, Thomas báo cáo phi trường dã chiến cho phi cơ L-5 đã làm xong và Hồ Chí Minh có cho ông biết rằng vợ con của HCM đã bị người Pháp bắt đi và đốt nhà đốt cửa. Nhận xét về tổ chức Việt Minh của Thomas là: “Không phải Cọng sản, cũng không phải do Cọng sản kiểm soát, cũng không phải Cọng sản lãnh đạo”. Ngày 1-8 Thomas lựa 100 người khỏe mạnh trong toán quân của Hồ Chí Minh và bắt đầu huấn luyện (Hồi ký Patti, kèm theo hình ảnh Võ Nguyên Giáp đứng chào quốc kỳ của Hoa Kỳ và tham dự các buổi huấn luyện).

Đôi lời của Bùi Anh Trinh

Đài RFA vừa mới quảng cáo cuốn phim “Một cơ hội đã bị bỏ lỡ”của CSVN. Theo như tác giả của cuốn phim, ông Nguyễn Mộng Long, thì tựa đề của cuốn phim nói lên nội dung “Việt và Mỹ có thể không xảy ra chiến tranh sau này nếu ngày đó phía Hoa Kỳ đừng từ chối ông HCM”. Nghĩa là ông HCM là người luôn luôn toàn tâm toàn ý theo Mỹ chứ không hề theo Cọng sản, ông đã chìa tay ra cho Mỹ nhưng Mỹ luôn luôn từ chối.

Đây cũng là lời nhắn của ông Trương Tấn Sang với Hoa Kỳ khi ông đưa cho Tổng thống Obama một bức thư của ông Hồ Chí Minh xin theo Hoa Kỳ vào năm 1946 nhưng Tổng thống Hoa Kỳ là Truman đã từ chối. Ý của ông Sang là ngày nay CSVN đang rất cần sự hỗ trợ của HK, xin HK đừng từ chối mà bỏ lỡ cơ hội như trước đây.

Cũng theo ông Nguyễn Mộng Long thì “Những thông tin mà bộ phim đưa ra thì không mới. Những gì tôi thu thập được thì không mới, nhưng có thể cách kể sẽ làm người ta chú ý hơn”. Nghĩa là cách trình bày hấp dẫn hơn.

Tập tài liệu “Chuyện Nước Non Đau Lòng Tới Nghìn Năm” được phát hành năm 2008 cũng chỉ thu thập những điều không mới; bởi vì hồi ký của Patti và tài liệu của Bộ Quốc phòng HK về thời kỳ 1945 tại Việt Nam đã được đưa ra công chúng gần 20 năm trước đây. Tuy nhiên nếu viết rằng “Hồ Chí Minh cọng tác với tình báo Hoa Kỳ” thì ít ai chú ý. Nhưng nay đổi tựa đề là “Năm 1944 Hồ Chí Minh làm đơn xin định cư tại Hoa Kỳ” thì có lẽ “ăn khách” hơn.

Mong rằng bài viết này, và bài viết “Năm 1945 Mỹ đưa Hồ Chí Minh về Hà Nội” sẽ làm cho quý vị hiểu rõ hơn về sự thật của cái gọi là “Cuộc cách mạng mùa Thu”.

Và sẽ hiểu giờ đây ai đã tài trợ cho Nguyễn Mộng Long làm cuốn phim đó. Dĩ nhiên nó không phải là một cuốn phim kinh doanh, cũng không phải là phim tuyên truyền của nhà nước CSVN.

Mục đích của cuốn phim là nhằm thuyết phục dư luận Việt Nam và Hoa Kỳ chấp nhận chuyện rồi đây CSVN sẽ “Hợp tác toàn diện” với Hoa Kỳ. Nghĩa là hợp tác về mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội, giáo dục đào tạo, v.v…Giống y như sự hợp tác của VNCH và HK trước 1975.

Advertisements

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s