VINH DANH THÁNH GANDHI – THƯƠNG TIẾC ĐỨC HUỲNH PHÚ SỔ & NGUYỀN RỦA HỒ CHÍ MINH NGU XUẨN

I. NHÂN LOẠI VINH DANH THÁNH GANDHI:

Việc Ấn Độ giành độc lập nơi tay người Anh vào năm 1947 không phải là một chiến thắng quân sự mà là cuộc chiến thắng của ý chí của con người. Mohandas Karamchand “Mahatma” (Thánh nhân) Gandhi đi vào lịch sử bằng cuộc đấu tranh chống lại chính quyền Anh Quốc ở Nam Phi và tiếp đến là vai trò lãnh đạo của Ngài trong phong trào đòi độc lập cho Ấn Độ. BẤT BẠO ĐỘNG là nền tảng cho tất cả chiến dịch vận động đấu tranh của ngài.

[1] CƠ SỞ TRIẾT HỌC TRONG PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG:

Trong tạp chí “Sociological Inquiry” với tựa đề “Analysis of Non – violence in Theory and Fact (Phân tách lý thuyết và thuyết bất bạo động). Nhà xã hội học JUDITH STIEHM phân tách như sau: “Theo quan niệm của nhà xã hội học nầy là sự xây dựng hòa đồng trên nền tảng nhân bản của con người sẽ đối kháng lại với áp bức và tất cả mọi hành vi bạo lực. Có nghĩa là ý thức tránh dùng vũ lực và bạo động, nó tiết kiệm được sự nhân lực và tài lực để giải quyết mọi vấn đề giữa con người và xã hội. Đây là cách thức bất bạo động thực tiễn mà con người có thể đạt được,” ông nói tiếp. “Không bạo động vì lương tâm: những sự xung đột, gây chiến và đánh nhau thường gây đổ máu cho dân chúng là vì do sự thiếu thông cảm. Để giải quyết vấn nạn nầy phải cần có sự đối thoại giữa hai giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Nhờ các lý do tâm lý nầy làm thức tỉnh mọi người vì lương tâm.”

[2] THÁNH GANDHI VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG:

Nhà xã hội học STERNTEIN trong buổi nói chuyện với “Phong trào hòa giải” (Mouvement Pour La Réconciliation) tại Vienne vào tháng 4/ 1968. Tác giả đã phân tách phương pháp đấu tranh bất bạo động của thánh GANDHI với thực dân Anh như sau:

• Theo ngài, việc tranh đấu bất bạo động (non – violence) không dùng vũ lực là tương đồng luân lý chiến tranh (l’equivalant moral de la guerre). Nhà cầm quyền cần phải có một đường lối tối thiểu của điều nầy để điều hòa guồng máy cai trị, vì vậy tất cả quyền lực của giai cấp thống trị đều cần đến nền luân lý đạo đức. Nếu nhà cầm quyền đi ngược lại nguyên tắc nầy, chỉ biết dùng quyền lực để cưỡng bách, đàn áp đối lập và nhân dân chỉ làm lực lượng đối kháng thêm sức mạnh mà vũ khí chính của họ là dựa sức mạnh tinh thần và ý chí đấu tranh bền bỉ.

• Kế hoạch và chiến lược (strategie) đấu tranh bất bạo động của Thánh GANDHI chia ra làm 3 giai đoạn: (1) Biểu tượng đối kháng (résistance symbolique) như: marches (diễn hành), démonstrations (biểu dương lực lượng), protestations (phản kháng). (2) Chiều hướng tự vệ: đình công (grèves), bất hợp tác (non-coopération), từ chối đóng thuế (refus de payer l’impôt), từ chối phục vụ trong quân đội (refus de service militaire). (3) Chiều hướng kháng cự: tẩy chay (boycott), tọa kháng (sitting).

• Người Anh gọi phương pháp đấu tranh “bất bạo động” của Thánh Gandhi là “passive resistance” thay vì dùng từ “non- violence” mới đúng nghĩa. Trong cuốn “TỰ TRUYỆN”, ông Thánh GANDHI giải thích: từ “Passive Resistance” có nghĩa quá hẹp, nó là vũ khí của kẻ hèn nhát; cuối cùng, có thể trở thành bạo động. “Bất bạo động” và “hèn nhát” không thể đi đôi.

Các tư tưởng của Thánh Gandhi về đấu tranh chính trị được ghi lại bằng những lời vắn tắt trong cuốn “The Words of Gandghi” do nhà xuất bản Newmarket Press ấn hành, quy tụ vào 5 chủ đề chính sau đây: Đời sống hằng ngày, sự hợp tác, bất bạo động, đức tin và hòa bình.

Trong cuốn “LỊCH SỬ ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG Ở NAM PHI” do chính ông viết như sau: Năm 1891, ông đậu vào luật sư đoàn của Anh. Lúc đó, ông mới có 21 tuổi và sang làm việc tại Nam Phi để binh vực quyền lợi cho người di dân Ân Độ. Tại đây, ông học được phương pháp đối kháng thụ động để chống lại những bất công xã hội mà ông gọi là SATYA (đạo/ chân lý), “SATYAGRAHA” (Sức mạnh của sự thật).

Năm 1915, ông trở về Ấn Độ hướng dẫn phong trào đấu tranh đòi Đế quốc Anh trao trả độc lập cho dân tộc Ấn Độ bằng phương pháp đấu tranh bất bạo động, kết hợp với chủ trương “AHIMSA” (Bất hại) nó có nghĩa là “không làm đổ máu kẻ thù”. Nhưng, nếu cần đổ máu của chính mình để tận hiến cho sự thật thì chúng ta không ngần ngại. Thánh GANDHI viết : “Nếu trong cuộc chiến tranh vì chính nghĩa, cần phải hại tới sinh mạng của con người thì ta nên bắt chước chúa JÉSUS sẵn sàng đổ máu mình, thay vì đổ máu kẻ khác. Như vậy, bớt chảy máu trong hoàn vũ.” (Autobiographie d’ un Yogi p, 440). Thánh Gandhi là một nhà lãnh đạo phi thường, ông đã tranh đấu bằng một phương thức kỳ diệu lạ lùng, đó là phướng thức “BẤT BẠO ĐỘNG”.

Bằng vào những phương pháp đấu tranh bất bạo động đó. Năm 1947, Thánh GANDHI đã đưa dân tộc Ấn Độ thoát ra khỏi ách đô hộ của Đế quốc Anh sau 190 năm mà không đổ máu. Hồi đó, không ai ngờ rằng một người đàn ông gầy gò, đầu không còn sợi tóc với đôi kính cận rẻ tiền, trên người chỉ quấn một mảnh vải ngang hông là tất cả tài sản của ông, lại có thể đánh bại một chế độ thực dân hùng mạnh nhất hoàn vũ. Người đó là GANDHI, ông xứng đáng được dân tộc Ấn Độ phong thánh và toàn thế giới ngưỡng mộ gọi ông là Thánh GANDHI .

II. THƯƠNG TIẾC ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ:

Đầu năm 1947, nhìn thấy cao trào “Giải Đế, bài Thực” đang phất lên trên toàn thế giới và phương pháp đấu tranh bất bạo động của Thánh GANDHI đang trên đà thương thuyết thắng lợi. Đức Huỳnh Giáo Chủ nhận thấy tình hình đã chín mùi trong điều kiện thuận lợi, để đánh bại chế độ Thực dân Pháp để giành nền độc lập cho đất nước và tự do cho dân tộc bằng con đường đấu tranh bất bạo động.

Nếu như, Thánh GANDHI có một đức tin trong sáng vào tín ngưỡng của mình qua lời ông nói: “Một người trao chính mình cho Thượng đế sẽ không còn sợ hãi con người.”(A man who throws himelf on GOD ceases to fear man) thì Đức Huỳnh Giáo Chủ được soi sáng bởi giáo lý của Đức Phật Thích Ca, ngài khai sáng ra Đạo Phật Giáo Hòa Hảo nối tiếp truyền thống Bửu Sơn Kỳ Hương và đạo Tứ Ân đậm đà bản sắc dân tộc được hằng triệu tín đồ miền Tây Nam Bộ hoan hỷ đón nhận: ân Tổ tiên, ân phụ mẫu, ân Tam bảo, ân Đồng bào – Nhân loại.

Tình yêu nước nồng nàn của ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ & THÁNH GANDHI đã gặp nhau tại một tụ điểm: “Trọng tâm của mọi phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, muốn thoát khỏi ách đô hộ của thực dân ANH và PHÁP là phải dựa vào sức mạnh vô địch của sự ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, chớ không phải dựa vào sự giúp đở của ngoại bang. Bởi vì, quan niệm của Đức Thầy: “Không có một ai yêu thương dân tộc mình, chỉ có dân tộc mình mới hết lòng yêu thương Tổ quốc và Dân tộc mình mà thôi.”

Sau khi phân tách cụ thể một hoàn cảnh chánh trị cụ thể (l’analyse concrète d’une situation concrète), Đức Thầy nhận thấy bản chất của thực dân Pháp cực kỳ ngoan cố hoàn toàn khác hẳn với bản chất của thực dân Anh là “mền nắn rắn buông”. Đức Thầy thay đổi chiến lược đấu tranh là không hoàn toàn áp dụng “biểu tượng kháng cự” (résistance symbolique) bất bạo động của Thánh GANDHI mà thực hiện thêm chiến lược “bất bạo động thực tiễn” nghĩa là không loại trừ những cuộc xung đột võ trang xảy ra trong một vài trường hợp bất khả kháng, được thực hiện như là một “bạo động biểu tượng”(violence symbolique) chỉ mang tính cách “nghi thức hóa cuộc đấu tranh” (ritualiser la lutte).

Chủ trương đấu tranh bất bạo động của Đức Huỳnh Giáo Chủ động viên hơn 4 triệu tín đồ PGHH và tất cả người Việt Quốc Gia không phân biệt tôn giáo, đảng phái, giai cấp… hưởng ứng nhiệt liệt . Và “CHỦ NGHĨA QUÔC GIA”trở thành một thách đố gay gắt với chủ trương của Hồ Chí Minh là núp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc để thực hiện “chủ nghĩa Cộng sản” trên toàn cõi Đông Dương theo lệnh của Đệ Tam QTCS. Hồ Chí Minh đã nhờ ai đó viết trên báo L’Humanité rằng: “Le nationalisme était, si on ne le controlait pas, un dangeureux phénomène risquant de menacer l’expansion du communisme dans les colonies” (Chủ nghĩa Quốc Gia nếu không bị khống chế, thì sẽ là một hiện tượng nguy hại cho sự phát triển Chủ nghĩa Cộng Sản ở các xứ thuộc địa).

Vì vậy, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã bị tên Việt gian Bửu Vinh, cán bộ Việt Minh, mưu sát tại làng Tân Phú (tức Đốc Vàng Hạ), tỉnh Long Xuyên vào ngày 16/4/1947 theo kế hoạch của Hồ Chi Minh. Nếu như, Đức Huỳnh Giáo Chủ còn tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách 100 nô lệ của thực dân Pháp thì chắc chắn lịch sử đã đi vào một lối rẽ khác và có lợi cho dân tộc Việt Nam nhiều hơn.

III. NGUYỀN RỦA HỒ CHÍ MINH NGU XUẨN:

Trong lịch sử đấu tranh oai hùng của Dân tộc Việt Nam chống kẻ thù truyền kiếp của dân tộc từ phương Bắc để tồn tại. Tổ tiên chúng ta đã kiên cường và bất khuất nhất định không làm nô lệ cho kẻ thù phương Bắc. Bao nhiêu thế hệ anh hùng dân tộc nối tiếp nhau từ triều đại Ngô – Đinh – Lê – Lý – Trần – Nguyễn, tổ tiên chúng ta chỉ dựa vào sức mạnh vô địch của TÌNH ĐOÀN KẾT TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT NAM để tự lực chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược từ phương Bắc. Tổ tiên chúng ta đâu có cần cầu viện quân ngoại nhập hoặc dựa một thứ chủ nghĩa hay chủ thuyết ngoại lai vong bản nào đâu? Biểu tượng vĩ đại nhất của tinh thần đoàn kết dân tộc là “HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG”. Lời nói bất khuất và hào hùng của ĐỨC TRẦN HƯNG ĐẠO đã thắp một đuốc thiêng bất diệt và sẽ mãi mãi cháy sáng rực rỡ trong lòng dân tộc Việt Nam: “NẾU BỆ HẠ MUỐN HÀNG, XIN CHÉM ĐẦU TÔI TRƯỚC ĐÃ!”

Quả thật, trong lịch sử chống ngoại xâm của Dân Tộc Việt Nam, không có cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc nào ngu xuẩn cho bằng hai cuộc “KHÁNG CHIẾN THỰC DÂN PHÁP” dưới sự lãnh đạo của tên Hồ và cuộc chiến tranh “CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC” do Đảng CSVN lãnh đạo. Thật vậy, Hồ Chí Minh đã hoàn toàn đi ngược lại tình đoàn kết truyền thống keo sơn gắn bó của tiền nhân bằng cách dùng thủ đoạn nham hiểm là gây chia rẽ, khủng bố, tàn sát người Việt Quốc Gia yêu nước để giành giựt chính quyền.

Hồ Chí Minh đã gián tiếp nối giáo cho giặc Pháp làm suy yếu tiềm lực chiến đấu của người Việt Quốc Gia. Bao nhiêu nhà ái quốc, các đảng phái cách mạng từ Nam ra Bắc, những anh hùng tử sĩ xả thân chiến đấu chống thực dân Pháp, họ không chết trước họng súng của quân xâm lược Pháp mà chết vì sự khủng bố tàn bạo do bọn sát thủ của Dương Bạch Mai, Trần văn Giàu, hung thần Chợ Đệm Nguyễn Trấn… theo lệnh của tên Hồ.

• TẠI MIỀN NAM: các lãnh tụ chống lại Việt Minh đều bị chụp mũ Việt Gian đều bị giết. Trong đó có: Huỳnh văn Phương, Trần văn Thạch (thuộc Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất). Nhóm Đệ Tứ Quốc Tế đều bị sát hại gồm: Phan văn Hùm, Hồ văn Ngà, Tạ Thu Thâu, Phan văn Chánh, Trần văn Sĩ, Phan văn Hòa, Nguyễn văn Sổ, Huỳnh văn Soi, Nguyễn văn Bạch…Tại tỉnh Long xuyên, Việt Minh đã tiến hành khủng bố ác liệt bằng nhiều hình thức giết người dã man như chặt đầu lột da, mổ bụng dồn trấu thả trôi sông, trấn nước, cho “mò tôm”, chôn sống…số người bị giết chết lên đến hàng chục ngàn người.

• TẠI MIỀN TRUNG: nhiều nhà ái quốc không chịu tham gia Đệ Tam Quốc Tế đã bị thủ tiêu như cụ Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Ngô đình Nguyên, Võ Như Nguyên, Phan Thúc Ngô, Tôn Thất Đạt. Nguyễn Bá Trác…

• TẠI MIỀN BẮC: các đảng viên cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Đảng đều bị thủ tiêu như ông Nguyễn Thế Nghiệp, ông bà Nguyễn Ngọc Sơn, Đào Chu Khái, cụ Nguyễn Hải Thần…Hồ Chí Minh còn ra lệnh truy lùng, bắt các thành viên Việt Cách dọc theo biên giới Việt – Hoa, ai không theo Việt Minh đều bị mang vào rừng thủ tiêu không biết nhiêu mà kể.

Rõ ràng, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh và Đảng CSVN không có công gì đối với Dân Tộc. Với trình độ văn hóa lớp ba trường làng và kiến thức bậc tiểu học của Hồ Chí Minh hiểu biết được bao nhiêu về chủ nghĩa Marxism – Leninism? Làm thế nào Hồ nhận thức nổi “sách lược chính trị” của Lenine viết trong tập tham luận “Về Các Vấn Đề Dân Tộc và Thuộc Địa”? Cái gọi là “Chiến tranh giải phóng Dân tộc” và “Đấu tranh giai cấp” chỉ là “LƯỠNG DIỆN”. Hồ Chí Minh làm sao đủ thông minh thấy điểm “CHIẾN LƯỢC” chính trị của Lenine và Staline là lần lượt giật sập toàn bộ hệ thống thuộc địa cũ của Đế Quốc Anh và Thực dân Pháp để biến nó trở thành hệ thống “THUỘC ĐỊA KIỂU MỚI”của Đệ tam QTCS? Cái sai lầm cực kỳ ngu xuẩn của Hồ Chí Minh là lấy “DIỆN” của Lenin & Stalin làm “ĐIỂM” chiến lược của mình.

HCM giống như một tên hề “tấu hài” trên sân khấu cải lương, hắn viết: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc Tế Thứ Ba.” (HCM toàn tập, T10, Tr127)

Sự thật về cái gọi là “Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp” (1945 – 1954) là do Trung Cộng đã đóng vai trò quyết định đánh bại Thực Dân Pháp, chớ không phải do HCM và Đảng CSVN lãnh đạo. Họ chỉ là những tên tay sai thừa hành lệnh của các quan thầy Trung Cộng:

• Sau khi Trung Cộng chiếm toàn lục địa Trung Hoa năm 1949. Hồ cùng Trần đắc Ninh đi Bắc Kinh gặp Mao xin giúp đở. Hồ được Mao hứa giúp đở tận lực về mọi mặt: chính trị, quân sự, ngoại giao… Hồ gặp sự chống đối kịch liệt của Tướng NGUYỄN SƠN – Tư Lệnh Liên Khu Tư – Nguyễn Sơn từng tốt nghiệp trường võ bị Hoàng Phố là một trong 18 tướng Hồng Quân theo Mao trong cuộc trường chinh đến Diên An. Năm 1945, Nguyễn Sơn rời Hồng Quân Trung Cộng trở về Việt Nam và được bổ nhiệm Tư lệnh Liên Khu Tư, thay thế Lê Thiết Hùng. Tướng Nguyễn Sơn là người duy nhất dám công khai bài bác Hồ và coi thường Võ Nguyên Giáp. Tướng Nguyễn Sơn phản đối việc Hồ xin viện trợ của Trung Cộng vì ông biết quá rõ tham vọng bành trướng bá quyền của Trung Cộng nên tướng Nguyễn Sơn bị Hồ dèm pha với quan thầy Trung Cộng, nhưng không dám giết như trường hợp Tướng Nguyễn Bình ở trong Nam Bộ và gởi trả về Trung Cộng rồi chết ở đó.

• Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đoàn chuyên gia quân sự (CMAG) do tướng Vi Quốc Thanh làm Trưởng phái đoàn cùng ra mặt trận, cùng làm việc bên cạnh Bộ chỉ huy Chiến dịch do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Các cố vấn Trung Cộng là người soạn thảo các kế hoạch hành quân, trực tiếp chỉ huy, điều động các lực lượng vũ trang Việt Minh (1950 – 1954). Họ đã đóng góp sự thành công trong “Chiến dịch biên giới Cao-Bắc-Lạng” (1950), kế đến là “Chiến dịch Tây Bắc” (1952 – 1953) và trận đánh quyết định “Điện Biên Phủ”, dứt điểm chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

• Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, chưa có một vị vua nào hoặc một lãnh tụ nào cầu viện quân ngoại nhập từ phương Bắc, ngoại trừ: Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Mặc Đăng Dung và Hồ Chí Minh. Trong 9 năm kháng chiến chống Thực Dân Pháp (1945 – 1954), Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã hy sinh trên 2.000.000 chiến sĩ và đồng bào chết tức tưởi vì chiêu bài bịp bợm và gian trá: “Kháng chiến chống Thực Dân Pháp”.

• Sau thế chiến Thứ II chấm dứt, phong trào giải đế bài thực đã trở thành xu hướng chung của nhân loại. Lần lượt những nước thuộc địa được các Đế Quốc trao trả độc lập mà không cần dùng đến hình thức “chiến tranh giải phóng” và “đấu tranh giai cấp” như tên HCM ngu xuẩn, vì nó sẽ gây đổ máu, chết chóc, tang thương đổ nát vô ích, không cần thiết cho đất nước của họ.

• TẠI Á CHÂU: Các thuộc địa Anh, Pháp, Hòa Lan…đều lần lượt thu hồi nền độc lập như Ấn Độ (1947), Miến Điện (1948), Tích Lan (1948), Phi luật Tân (1946), Nam Dương (1949), Mã Lai (1957), Singapore (1959)…

• TẠI PHI CHÂU: Có khoảng 30 quốc gia đều trở thành độc lập như Algérie, Maroc, Tunisie, Congo, Nigeria, Senegal, Guinea…

Đêm 20 rạng 21/7/1954, Việt Minh bắt tay với Pháp ký Hiệp Định Genève chia cắt đất nước, chia đôi dân tộc. Phía Bắc vĩ tuyến 17 thuộc Việt Minh Cộng Sản. Tên Hồ và tập đoàn lãnh đạo Đảng CSVN cúi đầu vâng theo lệnh của Mao như những những tên tay sai, ngoan ngoãn chờ Mao dạy bảo. Hồ và Trường Chinh đã mất hết nhân tính, điên cuồng giết chết hằng trăm ngàn đồng bào ruột thịt qua chiến dịch “Cải cách ruộng đất” kinh hoàng. Giết người bừa bãi như ông Hồ Chí Minh vì “thú tính” hơn là vì “nhu yếu chính trị”. Nói theo Machiavel gọi là sự tàn ác điên rồ (cruautés malpratiquées).

Tội ác to lớn nhất của Hồ Chí Minh là phá nát nền “Văn hóa Dân Tộc” dựa trên truyền thống “tam cương”, ngũ thường”, “tam tòng”, “tứ đức”…để dựng nước và giữ nước và xây dựng một xã hội có tôn ti trật tự và đạo đức. Nền văn hóa truyền thống dân tộc đã ăn sâu vào lòng dân tộc Việt hàng ngàn năm, đặt sự “hiếu thảo” lên hàng trăm nết tốt gọi là “bách hạnh”. HCM đã thay vào đó bằng nền “VĂN HÓA XƯỞNG ĐẺ” từ vô thần tiến đến đỉnh cao của nó là vô luân . Hồ lý luận: “Tam cương, ngũ thường nhằm bảo vệ tôn ti trật tự của các chế độ phong kiến. Đó là hệ thống tư tưởng cũ cần phải thay đổi 180 độ. Nếu cần phải đấu tố cha mẹ, phản lại người ân để phục vụ Đảng và xây dựng chế độ vô sản chuyên chính thì chúng ta phải làm triệt để.”

Trường Chinh đã đem mớ lý luận cực kỳ vô luân của ông Hồ, áp dụng một cách triệt để vào chiến dịch “cải cách ruộng đất” long trời lở đất, máu đổ thịt rơi vào những năm 1955 – 1956 tại miền Bắc XHCN. Để làm gương, Trường Chinh đã gông cổ cha mẹ già, kéo lê ra sân đình như kéo hai con chó già, rồi bắt quì gối xuống đất cho dân đấu tố, đánh đập dã man và ném đá cho đến chết. Con giết cha, giết mẹ là tội ác quá khủng khiếp và ghê tởm “trời không dung, đất không tha”. Vậy mà, ông Hồ và những người cộng sản vô thần gọi đó là “đạo đức cách mạng”. Cái đạo đức cách mạng đã biến những con người cộng sản mất hết nhân tính, con giết cha mẹ, vợ chồng đấu tố lẫn nhau, anh em sát hại nhau làm luân thường đảo ngược… còn thua loài cầm thú. Hung dữ như loài hùm, beo, sư tử, sài lang… còn biết đùm bọc, bảo vệ cha mẹ già của nó, huống chi là con người? Và nó đã gây hệ lụy thê thảm cho xã hội VN ngày hôm nay (xin đọc lại bài viết “Thiên đường XHCNVN từ kinh dị tới kinh hoàng”.

Trong cuốn “Tôi bỏ Đảng” trang 31 & 32, ông Hoàng Hữu Quýnh là chứng nhân viết: “Theo sự chỉ đạo của TBT Trường Chinh và Hồ Viết Thanh, Trưởng ban CCRĐ T.Ư, con số tối thiểu dành cho những bản án tử hình phải tăng từ 1 đến 5 người cho mỗi xã. Ở Nghệ An, thực tế mỗi xã có tới 6,7 địa chủ bị xử tử hình. Họ dấy lên “thà giết lầm hơn bỏ sót”. Con số địa chủ tự tử và bị giam đói chết cao hơn cả số tử hình. Cho tới nay ngay chính Đảng CSVN tìm ra con số chính thức người chết trong phong trào cải cách ruộng đất là bao nhiêu. Nhưng người ta nghĩ đến một con số đáng ghê sợ. Một nguồn tin cho biết cuộc tàn sát tập thể nầy lên đến mấy trăm ngàn người. Số người chết trong chiến dịch long trời lở đất nầy nhiều đến độ mà khắp miền Bắc vào lúc ấy đi đâu người ta cũng thấy vành tang trắng để tang cho thân nhân bị đấu tố. Số người bị gọi là địa chủ chết đã nhiều, thế nhưng chưa thấm vào đâu so với thân nhân của địa chủ bị chết đói vì “bao vây kinh tế” của Trường Chinh: “Thà giết mười người vô tội, còn hơn bỏ sót một kẻ thù”. Mỗi chiến dịch giảm tô và CCRĐ đều được thực hiện bằng 5 đợt liên tiếp theo chiến dịch vết dầu loang…đợt nào cũng có các chuyên gia người Trung Quốc giúp sức cả”

Năm 1968, trong dịp Tết Mậu Thân, CSBV vi phạm lên ngưng bắn, bất chấp ngày Tết cổ truyền của dân tộc, HCM ra lệnh cho quân CSBV bất ngờ mở các cuộc Tổng tấn công các tỉnh thành MNVN. Riêng tại cố đô Huế, quân CSBV đã giết hoặc chôn sống trên 5.000 người dân vô tội.

Trong khi đó từ phía Nam vĩ tuyến 17. Ngay từ tháng 7/1954, chánh phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đặt trọng tâm thương thuyết với Pháp, buộc thực dân Pháp phải trao trả ngay chủ quyền Quốc Gia mà không cần đổ máu. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 là Ngày Quốc Khánh, mở đầu kỷ nguyên nước VIỆT NAM CỘNG HÒA do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Suốt 9 năm cầm quyền, chánh phủ VNCH do ông lãnh đạo đã được trên 80 quốc gia trên thế giới công nhận và được gia nhập Đại hội đồng LHQ. Trong những năm đầu cầm quyền, Tổng Thống Ngô Đình Diệm không tán thành sự can thiệp trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ vào MNVN vì ông cho rằng phía Quốc Gia đủ sức đối phó với CSBV nếu được viện trợ đầy đủ vũ khí, tài chánh. Chính vì đức tính cương trực, bất nhân nhượng với đồng minh Hoa kỳ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đó là một trong những nguyên nhân đưa đến vụ đảo chánh Tháng 11, 1963. Ông và bào đệ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn bị những tên Tướng lãnh lưu manh, mang danh QLVNCH bức tử chỉ vì đồng dollars đẫm máu.

Ngày 4 tháng 9 năm 1958, khi Trung Cộng ngang ngược tuyên bố lãnh hải “Lưỡi rồng” chạy dọc bờ biển VN xuống Nam Dương rồi vòng lên phía đông, chạy dọc theo bờ biển Phi Luật Tân và tất cả các đảo trên biển Đông, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Để đền ơn Trung Cộng cho mua chịu 20 tỉ Mỹ kim vũ khí, bom đạn… để phục vụ cho cái gọi là kháng chiến và giết người Việt Quốc Gia, Hồ chí Minh đã muối mặt, chỉ thị cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhân danh chính phủ VNDCCH đặt bút ký công hàm đề ngày 14/9/1958 gởi Thủ tướng Trung Cộng là Chu Ân Lai: “Ghi nhận và tán thành bản tuyên bố của chánh phủ nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Ông Hồ Chí Minh, người mà nhà báo Bùi Tín trước đây cho rằng đã từng đứng đầu chánh phủ kháng chiến 9 năm thắng lợi. Còn nhà văn DTH thần thánh hóa ông Hồ trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp. Nếu chiếu theo điều 73 Lê Triều Hình Luật thì cái tội phản bội tổ quốc bằng cách cấu kết với ngoại bang xâm phạm chủ quyền của Quốc Gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, Hồ Chí Minh phải bị bêu đầu làm gương: ĐIỀU 73 LÊ TRIỀU HÌNH LUẬT: “Ai bán ruộng đất nơi biên cương cho người nước ngoài thì bị chém.” (Chư mại biên cương điền thổ dữ ngoại quốc nhơn trảm.)

Để biện minh cho hành động bán nước của ông Hồ và Phạm văn Đồng, các cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng CSVN đã viết bằng một luận điệu cực kỳ vong bản:

• Báo Sài Gòn Giải Phóng, trong số ra tháng 5/1976 viết: “ Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!”.

• Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng CSVN, trong số ra ngày 26/4/1988 đã viết: “Trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì Việt Nam phải tranh thủ sự gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chận Hoa Kỳ sử dụng 2 quần đảo nói trên”.

Rõ ràng, tên Hồ đã đặt quyền lợi của Đệ Tam QTCS lên trên quyền lợi của Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam. Nếu như, chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi. Thế còn đất nước Việt Nam thì sao? Thuộc chủ quyền của Dân Tộc Việt Nam hay trở thành một quận, huyện của Trung Cộng như Tây Tạng cũng vậy thôi phải không? Đúng là những luận điệu bán nước, cực kỳ ngu xuẩn của HCM & cái ĐCSVN chết tiệt đáng cho mọi người nguyền rủa và càng thương tiếc các chết của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Hiện nay, các quốc gia như Philippines, Malaysia, Đài Loan, Trung Cộng và Việt Nam đều đòi hỏi chủ quyền của mình trên quần đảo Trường Sa. Nhưng, Trung Cộng chỉ chịu thương thuyết song phương (bilateral discussion) riêng rẽ với từng nước như Philippines, Malaysia…và Trung Cộng không đồng ý thương thuyết đa phương (multilateral discussion) trong đó có Việt Nam. Đây là hậu quả vô cùng tai hại do việc ông Hồ và Phạm văn Đồng đã ký giao vùng biển bao la nầy, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng bởi công hàm đề ngày 14/9/1958. Chắc nhà báo BT và nhà văn DTH chưa quên lời tuyên bố của Ung văn Khiêm – Ngoại trưởng chánh phủ VNDCCH – vào năm 1956: “Hà Nội nhìn nhận chủ quyền của Trung Hoa với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà Trung Hoa gọi là Tây Sa và Nam Sa”. Nếu không có sự đồng ý ngầm của ông Hồ thì làm sao Ung văn Khiêm dám tuyên bố lếu láo và Phạm văn Đồng dám đặt bút ký cái công hàm bán nước kể trên?

Qua hai cuộc “Kháng chiến thần thánh chống Pháp” và “Chiến tranh chống Mỹ cứu nước” dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã biến nước VNCS trở thành con giun bị giày xéo dưới gót chân của tên côn đồ, bá đạo Trung Cộng. Vì sao ngày hôm nay, đất nước chúng ta ra nông nổi nầy? Và đây là những lý do:

• Ngày 16/6/1997, Thông Tấn Xã nhà nước CSVN đã công bố con số thiệt hại qua 2 cuộc chiến kéo dài 30 năm vô ích nầy như sau: 4 triệu người chết – 4,4 triệu người bị thương tật – 2 triệu người bị nhiễm chất độc hóa học.

• Mười năm sau 1975, có gần 5 triệu trẻ em dị dạng khi vừa mở mắt chào đời. Tại Miền Trung, tính trung bình mỗi gia đình có một người chết vì chiến tranh VN.

• Theo ký giả người Campuchia, Satya Sivaraman cho biết: Đánh chiếm MNVN, CSBV đã hy sinh tới 4,1 triệu người chết, đó là sự thất bại nhục nhã, đầy bi thảm với kết quả là tên lãnh đạo Hồ Chí Minh thất học quá ngu xuẫn và những tên lãnh đạo ĐCSVN sau nầy toàn là một lũ thiến heo, thiến bò…đã xóa sạch nguyên cả thế hệ thanh niên để phục vụ cho âm mưu bành trướng của Đệ Tam QTCS Liên Xô & TC và giúp Bắc Kinh dễ dàng “HÁN HÓA” dân tộc Việt Nam sau nầy.

• Nhìn chung, Mao Trạch Đông và bọn lãnh đạo Bắc Kinh đã thành công trong chiến lược “ĐÁNH MỸ ĐẾN NGƯỜI VN CUỒI CÙNG”, xúi giục bọn lãnh đạo ĐCSVN kéo dài cuộc “CHIẾN TRANH DU KÍCH” làm cho VN kiệt quệ hoàn toàn về nhân lực, tài lực để chúng dễ bề khống chế Biển Đông, lần lượt nuốt chững toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN như chúng ta đã biết…

• Còn số nợ mà tên HCM và ĐCSVN vay của Bắc Kinh 20 tỷ USD và của Liên Xô là 17 tỷ USD để mua chịu vũ khí, đạn dược, tên lửa, xe tăng, đại pháo dùng để bắn giết và đồng bào ruột MNVN, gây nên cuộc chiến tranh “cốt nhục tương tàn” suốt 30 năm thì sao?

(1) Để trả nợ cho Bắc Kinh, HCM và bọn lãnh đạo CSVN đã cống dâng quần đảo Hoàng Sa và một phần lãnh hải, ước tính khoảng 12.000 tới 20.000 km2. Nhượng cho TC một dãy lãnh thổ từ 2 tới 12 km2 dọc theo biên giới Việt – Trung. Như vậy, diện tích có thể mất từ 12 tới 15.000 km2. Còn đâu thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, và những cao điểm chiến lược vùng biên giới Việt – Trung mà tổ tiên chúng ta dùng để chống quân xâm lược từ phương Bắc…

(2) Thủ tướng “đầu tôm” Nguyễn Tấn Dũng dâng nốt Tây Nguyên Cao Nguyên, một vị trí chiến lược tối quan trọng cho bọn Bắc Kinh để khai thác Bauxite, bất chấp những cuộc biểu tình tự phát dữ dội của đồng bào, SVHS, trí thức, văn nghệ sĩ…bạo quyền Hà Nội đã lùa lũ chó săn CAND đàn áp đẫm máu để dập tắt các cuộc biểu tình nầy. Trong một quốc gia mà lòng yêu nước của nhân dân bị chính quyền trù dập thê thảm và tinh thần “NÔ LỆ NGOẠI NHÂN” lại được đề cao và ca ngợi. Bọn lãnh đạo ĐCSVN như Mười, Phiêu, Mạnh, Anh, Trọng, Sang, Dũng, Hùng…toàn là một lũ bất tài, vô dụng, hèn nhát, ăn hại đái nát…sẽ đưa đất nước và dân tộc Việt Nam đi về đâu? Một câu trả lời khẳng định là bọn chệt Bắc Kinh sắp biến Việt Nam trở thành một tỉnh, huyện của Trung Cộng như Mãn, Mông, Hồi, Tạng.

Với chiêu bài bịp bợm mị dân: “Kháng chiến chống Pháp” và “Chống Mỹ cứu nước”, HCM & ĐCSVN và cái gọi là lực lượng vũ trang QĐND Việt Nam muốn che đậy sự thật: Họ chỉ là đạo đánh giặc mướn, những tên lính xung kích của Đệ Tam QTCS. Hồ Chí Minh chỉ là một tên lãnh tụ thất học lưu manh, cực kỳ ngu xuẩn đáng bị dân tộc nguyền rủa, vì HCM không thực tâm “Kháng chiến chống Pháp” giành độc lập dân tộc và lợi dụng chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước” để xâm lược MNVN theo lệnh của quan thầy Stalin và Mao Trạch Đông, chiếm toàn bộ Đông Dương để làm bàn đạp để bành trướng lãnh thổ nuốt chững vùng Đông Nam Á Châu sau nầy.

Tôi xin mượn lời củaTổng thống Vladimir Putin trả lời cuộc phỏng vấn Đài Truyền Hình Hoa Kỳ do ông Larry King của đài CNN thực hiện ngày 8/9/2000, để tạm chấm dứt bài viết nầy: “Xác nhận sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam là điều cần thiết”. Rõ ràng, ĐCSVN muốn đổi trắng thay đen, muốn bẻ cong lịch sử với ý đồ nhồi nhét thế hệ trẻ trưởng thành sau năm 1975 về thành tích láo khoét “chống Mỹ cứu nước”, để che đậy hành động xâm lăng MNVN theo lệnh các quan thầy Bắc Kinh. Cái gọi là QĐNDVN chỉ là đạo quân đánh giặc mướn, những tên lính xung kích tiên phong của bọn chệt Bắc Kinh…

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

Advertisements

One thought on “VINH DANH THÁNH GANDHI – THƯƠNG TIẾC ĐỨC HUỲNH PHÚ SỔ & NGUYỀN RỦA HỒ CHÍ MINH NGU XUẨN”

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s