GIẶC ĐÃ ÙA VÀO NHÀ VIỆT NAM – KỲ 4

“…Một điểm rất quan trọng là địch quân chưa ra trận đã thua trước, bởi người của ta trong Cục Quân báo, Tổng Cục 2 Việt Nam, và những liên hệ trong ban lãnh đạo trung ương của đảng CS Việt Nam thường xuyên cung cấp đầy đủ tin tức chiến dịch “núi” cho CPC của ta!…”

Bán đất Việt dâng cho Trung cộng.

Hải Âu (海鸥DF-1, Quân đoàn 14), oai phong trong bộ quân phục trên cầu vai mang quân hàm Tá của Quân đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc, dự định hôm nay đưa tôi đi giới thiệu với tên Tư Lệnh Sư đoàn 67, Đại tá Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian).

Trên thực tế, tôi muốn liên lạc với Hải Âu 海鸥DF-1, F:67 (Sư đoàn 67). Tôi thấy không cần thiết phải liên lạc riêng với tên Đại tá háo danh vào thời điểm này, lý do là mùa Hè năm trước tôi đã có gặp y ở Côn Minh. Đương sự chẳng để lại ấn tượng nào sâu sắc, tuy nhiên tôi vẫn giữ liên lạc. Mỗi năm tôi gửi cho y hai thiệp chúc, một vào dịp Noël và một vào dịp tết Âm lịch.

Sau khi mải mê nói chuyện một mình, tôi sực nhớ và hỏi Hải Âu:

– Anh Hải Âu (海鸥DF-1, Q14), chúng ta gặp Đại tá Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian) khi nào cũng được, hiện nay tôi cần gặp Hải Âu (海鸥F:67) trước có được không?

– Chúng ta đã có dự định không gặp tên Đại tá Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian), nhưng muốn tiếp cận đồn biên giới C211 phải có ý kiến chấp thuận của y. Nếu y không đồng ý, chúng ta ắt sẽ có vấn đề. Chúng ta đang đi vào khu quân sự của Trung Quốc ở thời điểm chiến tranh, và sư việc không đơn giản. Người ra vào khu quân sự đều phải qua trạm kiểm soát của Quân báo, phải để lại tên tuổi, lý do liên hệ vào sổ trực ban. Chúng ta không thể nằm trong vòng ngoại lệ, mặc dù chúng ta tìm hết cách tránh né y. Anh nhớ lúc gặp y phải tỏ ra lịch thiệp, tặng y vài câu “bóp thêm”, sau đó tha hồ ca tụng hay vinh danh quân hàm tướng, để tránh không có chuyện rắc rối đến với chúng ta, vả lại còn thuận tiện cho việc đi lại của anh trong chiến lũy, từ đó liên hệ với Hải Âu (海鸥F:67) không khó, và họ sẽ bảo vệ an ninh cho anh.

Tôi suy nghĩ một hồi lâu:

– Xem ra đến đây dù có thẻ “K…” cũng không còn giá trị. Một khi đã xâm nhập sâu vào chiến tuyến địch, biết rằng khó sống, phải vận động trí tuệ để đối phó, lục lạo “qui luật” của Sư đoàn 67, từ đó tìm ra đáp số. Biết rằng qui luật ấy đang ở trong người của Hải Âu (海鸥F:67), tôi phải tuân theo và đi qua một chặng đường dài trắc trở.

Những nẻo đường đi tuy khó nhưng trước mặt có nhiều vấn đề bí mật về chiến tranh biên giới đang chờ đợi khám phá. Cơ may đến trong lúc này và tôi vận dụng mọi khả năng để thuyết phục đối phương, và thứ nữa chính bản thân thể hiện sự tinh tế để còn giữ liên hệ mật thiết với cơ sở Hải Âu. Suy cho cùng Hải Âu (海鸥DF-1, Quân đoàn14) nói có lý. Cá nhân tôi không có thẩm quyền vào chiến trường đang sôi động, mặc dù trong lòng tôi có ý định…., và tôi cũng không thể làm một ký giả của quân đội Trung Quốc. Họ thường gọi tôi là ký giả ngoài luồn, vì sự hiện diện của tôi ở Lão Sơn xem ra thừa thãi. Họ thầm nghĩ tôi thiếu kinh nghiệm chiến trường và Quân báo luôn dè chừng cá nhân tôi. Họ sợ phải ôm gánh nặng an ninh cho một người không cùng chiến đấu với họ. Tôi đọc được tâm tư của họ.

Bước đến chốn này, một lần nữa tôi hy vọng tìm hiểu được những binh đoàn Việt Nam ở tuyến đầu bảo vệ biên cương. Tôi đã nhiều lần để hết tâm trí tự vấn:

– Lý do nào quân bành trướng lại xâm lăng, cướp biên giới của Việt Nam. Ai là người cắt biên giới dâng cho Trung Quốc ?

Nỗi lòng bức xúc càng dân trào, thâm tâm bâng khuâng vô định, mắt hướng về quê hương xa xăm, lững lờ nhìn xuống chân núi, thấy toàn cảnh làng xã dân cư Việt Nam ở bên kia đường tỉnh lộ G326. Còn ở bên này nối liền huyết mạch giao thông của đất cũ Việt Nam, nay người Hoa gọi thị trấn “Cả-Phong”, cùng bên dòng sông Hồng, Lào Cai, Việt Nam. Nay làng Cả-Phong thuộc về Vân Nam, Trung Quốc từ năm 1956. Chính Hồ Tập Chương (HCMinh) đã dâng mảnh đất này cho Trung Quốc đổi lấy vũ khí mưu cầu chiến thắng Điện Biên Phủ !

Một đoạn tỉnh lộ G326 biên giới Lào Cai, Việt Nam-Trung Quốc. Photo: NF3. 86.
Một đoạn tỉnh lộ G326 biên giới Lào Cai, Việt Nam-Trung Quốc. Photo: NF3. 86.

Đường tỉnh lộ G326 bao quanh biên giới là một địa thế chiến lược thiên nhiên của Việt Nam, không thể đánh mất vì là huyết mạch sống còn của liên tỉnh Lào Cai – Hà Giang, song hôn với sông Hồng.

Ngày 2 tháng 4 năm 1984, quân CS Trung Quốc phát động chiến tranh bành trướng biên giới, phong tỏa hoàn toàn vùng Tây Bắc của Việt Nam. Hôm nay vào ngày này, tôi chưa định rõ được động cơ nào thôi thúc đưa tôi đến đây để rồi cảm nhận giây phút lắng động, một lần nữa cúi mặt xuống nhìn sâu vào lòng đất, cơn mê hoài niệm kín đáo tại tâm, đau thương cho phần đất quê hương từ đây vĩnh viễn rời khỏi Tổ quốc.

Tôi vội đáp câu hỏi của Hải Âu (海鸥DF-1, Quân đoàn14):

– Vâng vốn tôi và Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian) có quen biết nhau, hôm nay đến đây chỉ vì liên hệ với Hải Âu (海鸥F:67), hy vọng không đến nổi khó!

Hải Âu (海鸥DF-1, Quân đoàn14) nhắc nhở :

– Một chặp nữa, anh NF3.86, bước theo chân tôi phải cẩn thận đấy, ở đây sình lầy, bẩn thỉu lắm.

– Vâng, cảm ơn anh.

Người lính Quân báo chuyển tin vào Tư Lệnh Sư đoàn 67, áng chừng 10 phút sau, chúng tôi nhận được lời mời của Đại tá Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian). Chúng tôi đi qua một đoạn đường thứ hai được Quân báo tiếp đoán v.v…thủ tục hợp lệ, từ đây chúng tôi trải bước chân theo đường lầy lội, đạp lên những vết cày bừa của đạn pháo, lác đác máu đỏ hòa lẫn trên mặt đất, trên ngọn cỏ còn dấu máu đỏ, đất bùn máu in đậm gót giày của người chiến binh chưa ải, đồi núi trọc phơi bày những đường nét chiến tranh. Xa xa có những cổ thụ vừa trốc gốc nằm la liệt ở bên triền núi, cả bầu trời ảm đạm, cảm nhận nơi này không xa lạ với địa ngục (nói theo tôn giáo), những chiến binh hay hồn tử sĩ đang xuất hiên theo cảm hứng lạnh của trái pháo, do động lực con người quyết lấy sinh tử với nhau. Tất cả thảm kịch này đều do mộng bành trướng của nhà nước Bắc Kinh. Họ kích động lòng dân, nhảy vào chiến trường làm con thiêu thân cho chúng hưởng danh hão, bằng những cụm từ tác động “Thu hồi đất cũ”, “Chiến đấu bảo vệ biên giới” hay “Chiến dịch kiếm xanh”.

1

Toàn cảnh tỉnh lộ G326 Lào Cai, nay thuộc Trung Quốc, đoạn đường gối vào thị trấn Cả-Phong, đất cũ của Việt Nam mất vào năm 1956.  Trước cuộc chiến ngày 2 tháng 4 năm 1984, Trung Quốc nân cấp tỉnh lộ thành vòng 3 chiến lược. Công binh, Quân xa sử dụng chuyển tải cho chiến trường Lão Sơn-Vị Xuyên. Photo: Hải Âu 海鸥DF-1, Q14.

Chúng tôi bước vào cửa của Tư Lệnh Sư đoàn 67, thấy Đại tá Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian) đã ngồi chờ. Tôi liền chào, và thăng cấp cho y:

– Chào Thiếu tướng Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian), hình như Thiếu tướng lên cân hơn năm cũ.

– Cảm ơn, anh Viên Dung, anh khoẻ chứ, có chuyện gì mà anh phải lặn lội khổ cực đến chốn chiến tranh này, anh không sợ tiếng súng, đạn pháo hay sao?

Đi trong lòng kẻ địch, chính mình cũng có ít nhiều tự dối, đáp:

– Thực ra tôi đến đây để tìm cảm hứng sáng tác về chiến tranh, chính nó thôi thúc tôi đến đây, và mục đích khác thăm Thiếu tướng.

Tư lệnh Sư đoàn 67, Đại tá Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian) đầu năm 1988 thăng cấp bậc Thiếu tướng và năm 1999 thăng quân hàm Trung tướng. Nguồn: CPC.
Tư lệnh Sư đoàn 67, Đại tá Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian) đầu năm 1988 thăng cấp bậc Thiếu tướng và năm 1999 thăng quân hàm Trung tướng. Nguồn: CPC.

– Đa tạ anh Viên Dung.

Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian) nói tiếp:

– Xin lỗi anh Viên Dung, chờ tôi một phút để gọi cần vụ làm trà tiếp quý anh:

– Vâng.

Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian) gọi tên cần vụ:

– Quý đồng chí cho tôi một bình trà và 3 cái chung nhé.

Trực ban Tư Lệnh Sư đoàn từ trong hần trú ẩn nói :

– Dạ, Đại tá chờ vài phút.

Chúng tôi, ngó nhau ra hiệu tranh thủ thời gian gặp Hải Âu 67, riêng tôi đã mở máy thu âm, và quan sát hầm trú ẩn, nằm sau dưới lòng đất, xây dựng phòng thủ kiên cố, bên góc trái có nhiều hầm trú ẩn xây dựng bằng vật liệu nặng: thép, bê tông. Phòng làm việc phối trí dã chiến, chỉ có 4 cây gỗ rừng bán kính 30mm thay cho băng ghế dài, một bàn nhỏ vật liệu tre rừng, và một bản đồ Lão Sơn khích thước 70×100% mm, có những ký hiệu màu đỏ và đen, hình dung được chính nơi đây đưa ra lệnh triển khai quân sự. Sau này tôi mới hiểu màu đỏ ký hiệu nơi chiếm cứ, đặt doanh trại của quân Trung Quốc tại Lão Sơn, còn màu đen nơi cố thủ của quân đội Việt Nam.

Hải Âu 海鸥DF-1, Quân đoàn 14, nói:

– Cả hai tuần rồi Đại tá bận rộng chiến sự, ít đến núi 277 thăm chỉ huy trưởng của chúng tôi, hy vọng từ nay trở đi C211 gặp nhiều tin vui chiến thắng.

– Vâng, cảm ơn Trung tá, độ này đồng chí có những tác phẩm nào mới không ?

– Thưa, có vài tác phẩm, vẫn chưa đắc ý, lần này anh Viên Dung đến đây hy vọng có nhiều tác phẩm mới và ưng ý.

– Người ta sinh con, dù đẹp hay xấu đều ưng ý về đứa con của mình, trái lại quý anh sinh cả ngàn đứa con lại cho rằng tầm thường, tôi thấy quý anh khó tính hơn súng đạn.

Mọi người đồng cười ồ lên, tôi bắc cầu cho câu chuyện lý thú hơn :

– Thưa, Thiếu tướng tác phẩm chuyên chở máu nóng còn súng đạn máu lạnh, nó chỉ sống trong tia sáng, tuổi thọ của súng đạn không bằng con thiêu thân, tuy nhiên trước khi nó chết để lại vết thương thành bại cho lịch sử.

Tên Đại tá đáp:

– Anh Viên Dung phân tích theo cách nhìn của người nghệ sĩ, nghe qua cảm tưởng chí lý, riêng tôi, súng đạn cho phép chúng ta giải quyết trước khi hòa bình.

Tôi đáp:

– Thưa, Thiếu tướng cho biết vài luận cứ về chiến tranh đi trước hòa bình.

– Nói về chiến tranh có hai mặt, trái và phải, chúng ta nhìn cùng lúc cả hai mặt, quân đội là phương tiện cứu cánh cho hòa bình, một quốc gia không thể thiếu quân đội mạnh để bảo vệ biên cương và an ninh cho quốc gia, một khi nói đến quân đội đi kèm với vũ khí đó là nguyên tắc tự nhiên và bất biến từ cổ kim, quân đội là yếu tố giải quyết hòa bình sau chiến tranh.

– Thưa, Thiếu tướng nếu quốc gia mạnh không cần đến chiến tranh cũng giải quyết được hòa bình, và có nhiều giải pháp khác, như ngoại giao cũng đem đến hòa bình, xem ra chiến tranh đã lỗi thời, quân đội chỉ có giá trị về mặt tiêu biểu của quốc gia, nếu nói chiến tranh người ta liên tưởng đến “diều hâu” ẩn chứa quân hàm hơn là giải quyết hòa bình, nói cho cùng quân hàm tạo ra nguyên nhân chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc, và cụm từ “Thu hồi đất cũ” thay cho lý cớ chính đáng, theo lăng kính của tôi cảm nhận như thế.

– Người nghệ sĩ thường có cái nhìn phóng khoáng, thực chất không đơn giản tí nào, chiến tranh không đến từ một chiều, ít nhất Việt Nam tạo ra những tác động trước, và dĩ nhiên Trung Quốc phản ứng tự vệ, nay Trung Quốc chỉ lập lại nguyên vẹn lãnh thổ tại biên giới, trong 4 chữ “Thu hồi đất cũ”, quân ta đã đổ biết bao xương máu mới có điểm đứng này.

Từ chân núi D255, Trung đoàn Pháo binh 450 của Trung Quốc tấn công đỉnh núi C211, vào ngày 10/6/1984. Photo: Hải Âu 海鸥DF-1, Q14.
Từ chân núi D255, Trung đoàn Pháo binh 450 của Trung Quốc tấn công đỉnh núi C211, vào ngày 10/6/1984. Photo: Hải Âu 海鸥DF-1, Q14.

– Thưa, Thiếu tướng, tôi mạo muội thưa rằng, nếu đề cập đến lịch sử đất cũ, thì chúng ta phải trả lại cho Việt Nam hết miền Lưỡng Quảng gồm 5 tỉnh Trường Sơn, Quảng Châu, Quảng Tây, Vân Nam và Hải Nam mới phải, điểm đứng của chúng ta tại hồ Bành Lãi bên kia sông Dương Tử chứ không phải Lão Sơn nhỏ bé này, chúng ta có cầm nhầm đất cũ của thiên hạ không ? Và một vấn đề khác, về tài binh chúng ta tập trung tại Lão Sơn quá nhiều phương tiện chiến tranh, trong khi ấy Việt Nam chỉ có 3 Sư đoàn. Bởi vậy trước mắt Thiếu tướng bị động, chỉ thủ không công, lấy đa số khống chế thiểu số, theo tôi không cần thiết lấy tử vong của binh sĩ để đề cao thành tích; đáng trách những nhà tổ chức chiến tranh không đưa ra một kế hoạch tử vong thấp nhất.

– Theo suy nghĩ của anh, tôi tiếp thu được, nhưng vì thân làm lính, đầu óc tính không bằng cấp lãnh đạo tính, cũng đã có kế hoạch giảm tử thương cho binh sĩ đấy chứ, nói chung chiến trường không có con số nhất định về thiệt hại vật chất hay con người.

– Thưa, Thiếu tướng từ lúc nhận công tác tại chiến trường này, đến hôm nay đã có những gì chưa như ý và dự định nào cho hướng tương lai?

– Chiến trường này rất phức tạp, không thể cùng một lúc suy nghĩ về đường tiến quân và cố thủ; và việc thất thủ có thể xảy ra bất cứ lúc nào, tôi đứng giữa mặt trận không nao núng chỉ sợ lòng chiến sĩ chao đảo, bởi vậy tôi có cách chiến đấu bán mạng sống để bảo vệ biên giới, chấp nhận nhiều điều kiện khắc nghiệt, thời gian chiến đấu dù kham khổ tôi vẫn phải chịu đối mặt với thử nghiệm chiến tranh.

Tôi cắt lời, bơm hào hứng vào tên Đại tá háo danh, đẩy mái chèo theo lời y:

– Sự hiểu biết sâu sắc của Thiếu tướng rất chính xác cũng như áp dụng các nguyên tắc chiến đấu với trách nhiệm hiệu quả, nhờ nắm bắt đặc điểm chiến đấu của đối phương để thích ứng với chiến trường, đương nhiên Thiếu tướng quen thuộc địa hình, và thường động viên binh sĩ, thúc đẩy tinh thần với thẩm quyền cho các đơn vị chiến đấu, thực hiện kế hoạch tấn công tinh thần cao của quân đội, một giá phải trả quá rẻ để đổi lấy một chiến thắng lớn hơn, khâm phục.

– Đa tạ anh Viên Dung, tôi muốn cờ đỏ tung bay rợp chiến trường, tiếng súng sôi động không thể để tắt ngúm dù mưa phùn và gió lạnh vẫn chiến đấu, tôi phải tiếp tục chiến đấu đến khi nổ banh nòng, bốc khói khét lẹt để cho binh sĩ say mùi thuốc súng. Chính tôi đứng trên tháp chiến xa chỉ huy đạn pháo như dưới cơn mưa tầm tã, chỉ cần chiến thắng vẻ vang với một khẩu pháo còn lại. Tuy nhiên tôi rất sợ những tây súng không số, xuất phát từ lưng núi C211. [1]

Quân CS Trung Quốc xáp mũi súng chiếm lại đỉnh núi C211 lần thứ hai, vào ngày 13/6/1984. Photo: Hải Âu 海鸥DF-1, Q14.
Quân CS Trung Quốc xáp mũi súng chiếm lại đỉnh núi C211 lần thứ hai, vào ngày 13/6/1984. Photo: Hải Âu 海鸥DF-1, Q14.

Ngoài chiến trường tôi sợ nhất điều binh khiển vật, quỷ bí mật và “nhanh nhẩu” của địch, cho nên buộc mình phải hết sức tỉnh táo. Chiến lược xuất quân của ta có tính cách quyết định và “minh bạch” trước ba quân. Nếu ngoài mặt trận còn lay hoay sẽ cầm chắc trên tay việc thất thủ. Trước mắt quân đội Việt Nam đã bị thất thủ cũng vì lay hoay đó, và chúng tôi đánh cướp được mật danh M.76.

Tôi liền phản ứng chừng mực:

– Thưa, Thiếu tướng, nếu không có tình báo Hoa Nam lấy được mật danh M.76, thử hỏi có dễ dàng chiếm cứ được đồn C211 của địch không?

– Cũng nhờ Hoa Nam cho biết mật danh M.76 của địch, cửa chiến trường đã mở, chiến lược quân ta đứng thế thượng phong, cọng thêm hỏa lực mạnh, gài địch vào trận chiến. Khi ấy quân ta đã chuyển trước đến vị trí an toàn và điểm chốt để phục kích, tấn công bày ra, đồng thời cho nổ phá sụp hết chiến lũy, giao thông hào, riêng hầm chỉ huy và trú ẩn, vốn đã chôn sâu trong lòng đất, ngụy trang bịt kín hai đầu hầm, đặc biệt dưới hẩm trú ẩn có trang bị ống thông khí, đường bí mật dành riêng cho bộ chỉ huy, nếu cần bám trụ đầy đủ quân lương nuôi được một tiểu đoàn trong tháng.

Trận đã gài cho phép quân địch tung hoành đạn pháo trên gió, rơi xuống đất côn trùng không chết, chờ lúc quân địch tiến lên chiếm núi, chưa kịp đào hào phòng thủ, thừa dịp ta pháo tới tấp và bộ binh ồ ạt tấn công, quân của ta tha hồ quần xoay quân địch, không để địch lọt lưới chiến trường, phần lớn quân địch bị ta diệt trừ toàn bộ.

Quân báo của ta cho biết, quân địch lạc quan tin tưởng lối dụng binh ít thắng lớn của mật danh M.76, và vay mượn vài yếu tố cỏn con để tập kích bất ngờ khiến quân ta trở tay không kịp, họ đơn thuần nghĩ rằng dù hỏa lực mạnh hơn trăm lần cũng đành thất thủ chết đứng trên núi C211. Một điểm rất quan trọng là địch quân chưa ra trận đã thua trước, bởi người của ta trong Cục Quân báo, Tổng Cục 2 Việt Nam, và những liên hệ trong ban lãnh đạo trung ương của đảng CS Việt Nam thường xuyên cung cấp đầy đủ tin tức chiến dịch “núi” cho CPC của ta! Ba cơ sở nội ứng cung cấp dữ kiện, được CPC phối kiểm, đưa ra kết quả thành bại chiến trường.

Chính tôi lúc đầu còn ngỡ ngàng với những lệnh phát xuất từ Bộ Tư Lệnh chiến trường Tây Nam, qua một trận mới biết sự thật thế này:

– Ngày giờ quân địch di chuyển về hướng nào, chúng tôi đều biết trước, và quân báo xác định lại một lần nữa, đúng vị trí của thượng cấp hướng dẫn, còn biết cả quân số của địch, nhờ vậy phục kích, nổ súng đúng lúc. Nói thế quân địch cũng không vừa, cứ vào lúc 6 giờ chiều, địch dùng chiến thuật cổ điển, tổ “tam tam”, trèo lền núi ẩn mình vào đá lớn để phục kích quân ta, nhiều lần quân địch chiếm được bình độ 300, leo dần lên bình độ 600 bị hỏa lực ta đẩy lui, quân cảm tử của địch thường chọn lối đánh này.

Đến 6 giờ tối, Trương Chí Kiên (张志坚- Zhang Zhijian) mời chúng tôi dùng cơm. Tất cả cùng ngồi trệt xuống đất, cơm chưa vào mồm, bỗng nghe đủ loại tiếng súng gần xa, từ bên hông phải chiến hào, tiếp theo hai trái pháo làm tung cửa hầm, thân tôi bị đất đổ xuống chôn vúi gần hết đôi chân, trong lúc ấy đầu óc vẫn còn minh mẫn, tay trái rút cây Colt 45 tự vệ, trước mặt có bóng người phi thân qua hào, tôi đưa súng ngang tầm, không biết lý do gì bị súng cướp cò!

Khi tiếng súng đã yên, tôi lây hoay một hồi, cảm nhận rát dưới bắp chân, thấy máu loang ra hòa vào vũng bùn khô trước mặt. Tôi e rằng Hải Âu 海鸥DF-1 hay Trương Chí Kiên đã bị đất chôn vùi mất xác. Hai tiếng từ trong hầm đồng hỏi :

– Anh Viên Dung có bị gì không, anh NF3.86, thế nào ?

– Tôi vẫn bình an.

– Anh vào đây, chuyện tranh hùng súng nổ chớp nhoáng 10 phút đã qua rồi, quân cảm tử của Việt Nam bị tử vong hơn nửa, số còn lại đã rút xuống núi, quân của ta đang truy kích tàn dư địch.

Tôi đưa tay chỉ vào vũng bùn hỏi:

– Có phải máu của tôi không?

Hai người cùng lúc nói :

– Đúng rồi anh đã bị thương, đứng yên để chúng tôi đào đất rồi đưa anh đi bệnh xá của Sư đoàn 67.

Lúc này tôi phó mặc thân xác cho núi rừng. Một lúc sau y sĩ đến “cáng” tôi đi đến bệnh xá chữa trị. Tôi đau lòng nhìn cảnh chiến trường mọi nơi đổ nát, những xác Việt ngổn ngang trên núi C211. Máu từ chân chảy quá nhiều nên tôi phải chấp nhận nằm dài trên băng ca cứu thương.

Huỳnh Tâm

[1] Người dân địa phương tự phát, làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Bắc Việt Nam.

Advertisements

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s