NGUYỄN ĐĂNG MẠNH VIẾT VỀ HỒ CHÍ MINH

ĐÔI DÒNG GIỚI THIỆU

   Năm 2008 , Nguyễn đăng Mạnh cho ra đời cuốn hồi ký của mình. Cuốn hồi ký không được xuất bản trong nước cũng như hải ngoại mà chỉ đuợc tung lên và lưu truyền trên Internet. Nói chung cuốn hồi ký thuộc loại nói thật, nói táo bạo về những nhân vật chính trị như Hồ chí Minh, Tố Hữu cũng như những nhà văn, nhà thơ cùng thời như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu v..v. Lối trình bày cảm nghĩ và tường thuật trong cuốn hồi ký này không thuộc loại văn chương xã hội chủ nghĩa đi theo “ lề bên phải “ nên cuốn hồi ký bị phê bình nghiêm khắc bởi báo chí trong nước.

      Văn nô trong guồng máy nhà nước Cộng sản Việt Nam, trong những bài viết phê bình trên mạng điện tử của những tờ báo trong nước,  coi cuốn hồi ký này có nội dung, xấu, tiêu cực, độc hại và tác giả Nguyễn đăng Mạnh bị đánh giá là  sai trái khi trình bày những vấn đề quá nhạy cảm , gai góc không theo đường lối văn hoá, văn nghệ của nhà nước Cộng sản.

    Nguyễn đăng Mạnh bắt đầu “ thấy rét “ bởi sự phản ứng gay gắt của báo chí Cộng sản trong nước nên trong một cuộc phỏng vấn với bà Thụy Khuê của Đài Pháp Á ( rfi), ông Mạnh yêu cầu không phổ biến cuốn hồi ký của ông. Ông không dám bảo vệ những quan điểm thẳng thắn ông đã trình bày trong cuốn hồi ký. Dĩ nhiên là ông sợ những đòn thù mà chế độ sẽ giáng vào bản thân ông trong những ngày tháng còn lại của cuộc đời nên tính chuyện thu hồi cuốn hồi ký “ có vấn đề” của ông sau khi nó đã được ông tung lên và lan tràn rộng rãi trên Internet. Ông hy vọng hành động đầu hàng này sẽ làm vui lòng nhà cầm quyền Cộng sản và sẽ làm cho họ không còn làm khó dễ ông thêm nữa

   Nguyễn đăng Mạnh  thua xa Nhạc sĩ Tô Hải là đã không dám bảo vệ quan điểm của mình sau khi cuốn hồi ký được tung ra. Tô Hải cũng bị bọn bồi bút của nhà cầm quyền Cộng sản răn đe, hù dọa sau khi Hồi ký Tô Hải  được xuất bản ở hải ngoại. Nhưng Tô Hải không sợ và thách thức nhà cầm quyền Cộng sản muốn làm gì thì làm, kể cả chuyện bắt Tô Hải vào tù. Nhà cầm quyền Cộng sản cho tới giờ này cũng không dám làm gì Tô Hải ngoài những bài chửi bới , nhục mạ do các văn nô Cộng sản viết trong những báo trong nước.

Chuơng viết về Hồ chí Minh này là chương 7 trong cuốn hồi ký. So với Sơn Tùng là nhà “ Hồ chí Minh học” viết hay nói gì cũng đều tâng bốc ca tụng Hồ chí Minh lên tới mây xanh, thần tượng hoá Hồ chí Minh bằng mọi cách thì Nguyễn đăng Mạnh có những nhận định tỉnh táo trung thực hơn về Hồ chí Minh. Nguyễn đăng Mạnh nói lên ưu điểm nhưng cũng nói lên khuyết điểm của Hồ chí Minh, Nguyễn đăng Mạnh cũng đã mạnh dạn nói đến cái chết thê thảm của người vợ không cưới của Hồ chí Minh là Nông( Hà) thị Xuân và hai cô em họ. Kể những chuyện dâm ô, xấu xa, tàn bạo của Hồ chí Minh như thế này làm nhà cầm quyền Cộng sản khó chịu và do đó lên án gay gắt cuốn hồi ký này.

     Nguyễn đăng Mạnh khá sai lầm khi cho rằng  113 bài thơ trong tập thơ Ngục Trung Nhật Ký là của Hồ chí Minh. Ngay cả những người làm công tác văn học trong chế độ Cộng sản cũng thực sự nghi ngờ tác giả đích thực của cuốn hồi ký thơ này. Nhà văn Đặng thai Mai , trong khi nhận lãnh trách nhiệm hiệu đính bản dịch Nhật Trung Nhật Ký ,ông có ý muốn nói chuyện trực tiếp với Hồ chí Minh để hiểu rõ lai lịch tác phẩm nhưng Hồ chí Minh im lặng, không đáp ứng lời yêu cầu phỏng vấn. Giáo sư Lê trí Viễn trong khi nghiên cứu tập thơ này đã chỉ rõ tác giả là một người Trung Hoa chứ không phải Hồ chí Minh, mặc dầu mỗi lần nói đến tập Ngục Trung Nhật Ký ,ông vẫn trân trọng cho đó là tập thơ chữ Hán này của Bác Hồ kính yêu. Nguyễn đăng Mạnh cũng nói trong cuốn hồi ký chuyện Hồ chí Minh tránh né trả lời về chi tiết cuốn Nhật Trung Nhật Ký như sau:

   “ Thì ra đối với ông Hồ, làm thơ cũng chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về Nhật Ký Trong Tù như một tập thơ ,ông đều từ chối không trả lời, vì coi đó chẳng phải thơ phú gì và bản thân ông cũng không phải nhà thơ. Chẳng qua ở tù buồn quá, không biết làm gì, thì ghép vần chơi, thế thôi ( Trong cuốn sách “ Vừa đi đường vưà kể chuyện “ , ông đã nói như thế.”

 ( Trích “ Hồi ký Nguyễn đăng Mạnh, trang 125 )

Thật ra ông Hồ tranh né trả lời những câu hỏi về tập thơ Nhật Ký Trong Tù không phải vì ông khiêm tốn như Nguyễn đăng Mạnh suy đoán mà vì tập thơ này không phải của ông, nên ông ngại trả lời chi tiết, sợ lòi ra sợ thật ông không phải là tác giả của nó.

   Học giả Lê hữu Mục có viết nguyên một cuốn sách nhan đề “ Hồ chí Minh không phải là tác giả “ Ngục Trung Nhật Ký “ xuất bản ở Canada trong đó ông Mục phân tích rõ ngữ âm, ngữ điệu, hoàn cảnh ra đời của bài thơ để chứng minh đa số những bài thơ trong tập thơ này không phải là của Hồ chí Minh.

    Đầu tiên ông Mục có đề cập đến hai hàng số ghi ở đầu tập thơ là (29.8.1932/10.9.1933) ( Có thể vào trang 8 cuốn “ Hồ chí Minh không phải là tác giả của Nhật Trung Nhật Ký “ của tác giả Lê hữu Mục để nhìn thấy hàng số này. Hay xem  cuốn DVD  về Hồâ chí Minh của Linh mục Nguyễn hữu Lễ để nhìn thấy hàng số ở trang đầu tập thơ này). Trong  khi lịch sử ghi nhận  Hồ chí Minh bị bắt vào tù vào tháng 8.1942. Đó là sự cách biệt 10 năm cho thấy Hồ chí Minh khó có thể là tác giả tập thơ.

   Trong 113 bài thơ của tập thơ, Học giả Lê hữu Mục cho rằng Hồ chí Minh chỉ là tác giả chừng 10 bài còn chừng 100 bài còn lại là của ông già người Trung Hoa họ Lý bạn tù của Hồ chí Minh trong thời gian Hồ chí Minh ở tù tại Hồng Kông.

    Phải nhận rằng Hồ chí Minh biết tiếng Hán và có thể làm thơ bằng tiếng Hán . Một ví dụ cụ thể là trong thời kháng chiến chống Pháp, Hồ chí Minh có trao đổi vài câu thơ viết bằng tiếng Hán với thân sinh của ông Bùi Tín là cụ Bùi bằng Đoàn. Nhưng Hồ chí Minh chỉ làm được những bài thơ bình dân, phong cách chưa được trau chuốt , nghệ thuật như hầu hết những bài thơ chữ Hán trong tập. Phải là người có trình độ hán văn, sâu sắc, thâm thúy mới làm nổi những bài thơ này. Người đó chính là ông già người Trung Quốc họ Lý bạn tù của Hồ chí Minh, Hồ chí Minh chắc chắn đã “ cầm nhầm “ nhiều bài thơ của ông già Tàu này.

      Có thể trích dẫn một bài thơ thuộc loại bình dân, giản dị của Hồ chí Minh có trong tập thơ ( do cán bộ đưa thêm vào chứ không phải có trong nguyên tác )

                       BỊ HẠN CHẾ ( bản dịch)

                  Đau khổ chi bằng mất tự do

                  Đến buồn đi ỉa cũng không cho

                  Cửa tù khi mở không đau bụng

                  Đau bụng thì không mở cửa tù

   Văn chương chữ Hán của Hồ chí Minh đại khái là như thế đấy!

 Hãy nghe  Nguyễn đăng Mạnh tán tụng bài thơ hay ho và” thơm tho” này trong bài viết    “ Vài suy nghĩ nhỏ về một phong cách lớn như sau:  “ Bác độc đáo ở chính chỗ giản dị của mình. Xét ra giản dị là cả một vấn đề bản lĩnh. Bản lĩnh của Bác  cao hơn văn chương nên văn chương không ràng buộc được, và cứ thế, bài tiếp bài, có gì nói vậy , chất phác. thật thà như chính cuộc sống. “

   Tập thơ “ Ngục Trung Nhật Ký” hiện còn nằm trong viện bảo tàng cách mạng . Hy vọng rồi đây khi chế độ Cộng sản Việt Nam sụp đổ, các nhà nghiên cứu văn học sẽ có cơ hội nghiên cứu nét chữ Hán của những bài thơ và sẽ rút ra thêm nhận định chính xác ai là tác giả của những bài thơ . Là của Hồ chí Minh hay của ông già họ Lý người Trung Hoa?

   Nguyễn đăng Mạnh có kể chuyện ông Hồ hút thuốc ngoại và uống sữa tươi là những chuyện mà nhà cầm quyền Cộng sản luôn bưng bít và dấu diếm. Họ chỉ muốn đưa ra hình ảnh một ông Hồ ăn uống kham khổ, sống giản dị vì hình ảnh này có lợi cho sự tuyên truyền . Nguyễn đăng Mạnh chắc chắn sẽ bị đánh giá là “ phản động” khi kể chuyện ông Hồ hút thuốc ngoại và uống sữa tươi trong thời kỳ kháng chiến vì cung cách ăn uống như thế sẽ bị là lối sống xa hoa của bọn tư sản chứ không phải là của chủ tịch nước của một chế độ vô sản.

   Nguyễn đăng Mạnh kể lại những mẩu chuyện của Họa sĩ Diệp minh Châu, cô gái quê Nguyễn thị Hằng, Dương bích Liên , Trần việt Phương về sự ưu ái quan tâm của ông Hồ đối với từng người và coi đó như một ưu điểm biết lo lắng,chăm sóc đến người khác. Không hiểu sao khi ông từ giã người vợ Tàu vào thập niên 1930 rồi về Việt Nam làm cách mạng thành công, công thành danh toại, ông chưa bao giờ tìm cách liên lạc lại với người vợ bất hạnh này.? Ông có nghĩ đến sự đau khổ buồn tủi của người vợ này không? Đối với một số người gặp gỡ trong đời sao ông tinh tế, chăm sóc âu yếm đến thế , trong khi đối với người vợ đầu ấp tay gối , ông lại tỏ ra quá sức bạc bẽo vô tình đến độ tàn nhẫn.!

    Rồi đến chuyện ông xin lỗi con của Phạm Quỳnh về cái chết của Phạm Quỳnh do Việt Minh ra tay thủ tiêu. Ông phân bua là cấp dưới Việt Minh làm sai, nhưng nên nhớ Phạm Quỳnh có chức vụ là thượng thư triều Nguyễn. Không dễ gì giết một nhân vật cao cấp như vậy mà không có lệnh từ trung ương của tổ chức Việt Minh , đứng đầu là Hồ chí Minh. Chuyện ông xin lỗi này nọ sau khi Phạm Quỳnh bị tổ chức Việt Minh giết năm 1945 cho thấy đây có thể là một trò nhân nghĩa giả . Truyện Tam Quốc cho thấy gian hùng Tào Tháo đôi khi cũng có những trò nhân nghĩa làm cảm động biết bao quân sĩ dưới trướng. Hồ chí Minh cũng được đánh giá là gian hùng cỡ Tào Tháo chứ không phải là loại người hiền lành , đức độ gì. Có điều miả mai là người con trai lớn của Phạm Quỳnh là nhạc sĩ Phạm Tuyên chính  là tác giả của bài ca nổi tiếng sau 1975 là bài “ Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” ,  ca ngợi  người lãnh đạo của phe đã giết cha mình một cách tàn bạo.

   Về chuyện cô Nông thị Xuân, người đàn bà đã ăn nằm với Hồ chí Minh có một đưá con tên Nguyễn tất Trung, bị sát hại thê thảm ,  thì từ trước tới nay, dư luận cứ chĩa mũi dùi lên án vào hai tên sát thủ Trần quốc Hoàn và Tạ quang Chiến là chính phạm và tòng phạm .  Theo suy luận này thì ông Hồ mất hết quyền lực, đành thất thế đau khổ nhìn đàn em Trần quốc Hoàn hiếp và giết vợ mình mà không nói lên được một câu ta thán, thương tiếc.  Thật ra kết luận như vậy cũng hơi đơn giản. Phải nhớ thời điểm cô Xuân bị sát hại là năm 1957 , lúc ấy Hồ chí Minh chưa tỏ ra có dấu hiệu nào mất quyền lực và thất sủng  như trong những năm cuối đời. Liệu bộ trưởng công an Trần quốc Hoàn có dám qua mặt Chủ tịch nước Hồ chí Minh để sát hại người vợ Nông Thị Xuân một cách không kiêng dè,kiêng nể hay không?  Hay chính Hồ chí Minh là người ra lệnh cho Trần quốc Hoàn sát hại cô Xuân rồi ngụy tạo như một tai nạn để che mắt thế gian ? Nếu như vậy thì quả tình Hồ chí Minh đã đi đến tận cùng của sự ác độc, tàn nhẫn khi cho đàn em giết người chăn gối của mình để che dấu chuyện chăn gối lén lút của mình. Hy vọng sẽ có thêm nhiều nhân chứng sẽ lên tiếng trong tương lai  thì mới biết được thủ phạm đích thực của vụ sát hại cô Nông thị Xuân là ai?. Nhà văn Vũ thư Hiên trong hồi ký “ Đêm giữa ban ngày “ đã gọi Nông thị Xuân là bà “ hoàng hậu bất hạnh nhất trong lịch sử Việt Nam “ vì chưa có bà hoàng hậu nào trong lịch sử Việt Nam sống trong hôn nhân lén lút và chết trong thảm khốc như  Nông thị Xuân dù bà ta không có lỗi gì cả.  Nhận định của Vũ thư Hiên tuy  chua chát, đau thương nhưng chính xác. Nguyễn đăng Mạnh thẳng thắn đưa vấn đề Nông Thị Xuân bị sát hại  vào trong hồi ký lại càng làm cho cuốn sách của ông bị chế độ Cộâng sản lên án và chửi rủa vì chuyện này làm xấu mặt Hồ chí Minh rất nhiều.Không những cô Nông thị Xuân bị sát hại mà hai cô em họ sống chung cũng bị giết luôn để  bịt miêng nhân chứng hầu  bưng bít va che dấu một chuyện tình cảm vụng trộm , sai trái của Hồ chí Minh. Sự tàn ác, dã man của chế độ Cộng sản đến thế là cùng.

    Rồi Nguyễn đăng Mạnh kể thêm chuyện ông Hồ dùng tử vi để tiên đoán diễn tiến tình hình thế giới và có nhờ người đến thư viện để mượn sách tử vi . Hồ chí Minh thường  rao giảng chủ nghĩa Mác-Lê nin  là một chủ nghĩa duy vật khoa học cho cán bộ và nhân dân đi theo  trong khi lại lén lút đi tìm đọc sách tử vi là một loại sách bói toán tâm linh.. Chuyện nhỏ nhặt này cũng nói lên được con người hai mặt của Hồ chí Minh. Cũng khó mà hiểu nổi con người thật của Hồ chí Minh vì ông là một nhà chính trị bá đạo có tính khí tráo trở  khôn lường.

  Chuyện chế  độ thần thánh hoá Hồ chí Minh là chuyện ai cũng biết và nhìn thấy. Nhưng thật sự bản thân Hồ chí Minh có muốn tự thần thánh hoá mình hay không ? Câu trả lời là có. Ông có lúc khuyên người đời không nên bắt chước ông hai chuyện là hút thuốc và không lấy vợ. Ông có vẻ cũng muốn tự hào mình là người đàn ông thánh thiện không gần gũi với đàn bà nên không lấy vợ! Ông nói ông không lấy vợ nhưng ông ăn nằm hết người đàn bà này đến người dàn bà khác rồi bỏ họ đành đoạn. Từ Tăng tuyết Minh đến Nông thị Ngát ( Trưng )  ( là mẹ của Tổng bí thư Nông đức Mạnh bây giờ ) , cho tới Nông thị Xuân. Ông đúng là một thứ Sở Khanh đạo đức giả, đóng vai độc thân thánh thiện trong khi lang chạ với bao nhiêu người phụ nữ. Lúc về nước,ông mới ngoài 50 nhưng để râu tóc dài để đóng vai “ cha già dân tộc”. Ông rõ ràng là quá tự đề cao cái tôi cuả mình chứ không được khiêm tốn như ông đã dạy con nít  trong 5 điều răn nổi tiếng.

   Cuối cùng, Nguyễn đăng Mạnh kể lại chuyện người bạn Hoàng ngọc Hiến của ông suy luận ông Hồ chết vào ngày Quốc Khánh 2/9 là do tính khí ông ấy “ đáo để “. Suy luận như thế là có phần hụt hẫng và thiếu lô- gích. Đúng ra ông Hồ chết vào ngày 2/9 có thể là do ngẫu nhiên và có thể là do ông ấy chủ động tìm cái chết  vì khi biết bọn đàn em dùng độc dược để giết ông thì ông, bằng một cách nào đó như rút dây dợ đang gắn vào mình ,  quyết chết đúng ngày Quốc Khánh để gây bối rối và lúng túng cho bọn đàn em cố tình giết ông.. Chúng đã thật sự bối rối và lúng túng khi ông chết vào ngày 2/9 trùng vào ngày Quốc Khánh , bởi vậy mới có chuyện chúng công bố sai ngày chết của ông lúc đó là ngày 3/ 9 , không dám nói thật ngày chết của ông là ngày 2/9. ( Xin mời vàowww.nsvietnam.com , bấm vào tên Trần viết Đại Hưng rồi bấm vào bài số 120) Những bạo chuá bị đàn em giết lúc cuối đời  .. để đoc và hiểu thêm cái chết của Hồ chí Minh).

     Nói chung hồi ký Nguyễn đăng Mạnh là một cuốn hồi ký sinh động với nhiều tình tiết hấp dẫn, nhưng phát hiện táo bạo, nói thẳng,nói thật không e ngại .Đây là một cuốn hồi ký có giá trị về mặt văn học cũng như lịch sử.  Tiếc rằng Nguyễn đăng Mạnh chưa có được cái dũng của một kẻ sĩ để nhận hết trách nhiệm những gì ông đã viết ra trong hồi ký mà chọn đường rút lui, thu hồi cuốn hồi ký của mình vì sợ hãi sự đàn áp của nhà cầm quyền. Nếu ông can đảm giữ vững quan điểm những gì ông đã viết ra, chắc chắn tên tuổi ông còn chói sáng thật nhiều về sau.

    Chuyện tìm một kẻ sĩ bất khuất dám nói thẳng , nói thật , không e ngại  trước nhà cầm quyền  gian ác không phải là chuyện dễ. Nó hầu như là chuyện đẹp đẽ, hiếm hoi của thời quá vãng xa xưa.

  Los Angeles, một chiều muà xuân hoang vu lạnh giá giữa tháng 12 năm 2010

                            TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG

              NGUYỄN ĐĂNG MẠNH NÓI VỀ HỒ CHÍ  MIN

      Tôi được nhận thấy Hồ chí Minh hai lần.

      Lần thứ nhất sau Cách mạng tháng Tám. Sau cuộc khởi nghĩa tháng tám năm 1945, bố tôi đưa cả gia đình từ Thái Bình về thị xã Bắc Ninh. Tôi tiếp tục học cấp 2 ở trường Hàn Thuyên.

    Một hôm được tin Hồ chủ tịch về Bắc Ninh. Tôi và mấy bạn học được nhà trường cử đi đón. Mỗi đứa được phát một lá cờ nhỏ bằng giấy, hễ Hồ chủ tịch đến thì vẫy cờ và hô khẩu hiệu chào mừng.

  Chúng tôi đứng xếp hàng trước cửa phòng thông tin xã, nơi Chủ tịch Hồ chí Minh tới.

  Đợi một lúc thì có một chiếc xe ôtô con đỗ ngay mép đường, trước cửa phòng thông tin. Tôi thấy có hai anh cảnh vệ vọt ra trước, cầm lăm lăm tiểu liên, nhẩy lên đứng trên hai cái trụ của bức tường hoa thấp trước phòng thông tin. Hai anh lia mũi súng sang trái, sang phải, vẻ mặt căng thẳng.

    Hồ chí Minh bước ra sau. Quần áo Kaki. Giầy vải. Cầm batoong. Người gầy đen. Râu tóc cũng đen. Ông đứng lại ngay sát chúng tôi, nhưng không để ý gì đến bọn trẻ con này cả, tuy chúng tôi ra sức phất cờ và hô , “ Hồ chủ tịch muôn năm !”

   Đứng lại một lát, liếc nhìn chung quanh một chút, mặt đầy cảnh giác, rồi ông đi rất nhanh vào phòng thông tin. Lưng rất thẳng,gầy nhưng cứng cáp, cử chỉ lanh lẹn – ấn tượng của tôi về Hồ chí Minh là như thế.

 Hồi đó, ở Bắc Ninh, , Việt Nam Quốc dân đảng hoạt đông khá mạnh. Đã có những cuộc đụng độ vũ trang giữa lính Quốc dân đảng và Vệ quốc đoàn ở Thị Cầu. Chắc vì thế nên ông Hồ và các vệ sĩ của ông rất cảnh giác.

   Lần thứ hai tôi được thấy Hồ chủ tịch là vào khoảng 1961, 1962 gì đó, hồi tôi công tác ở trường Đại học sư phạm Vinh.

    Ông Hồ vào Vinh. Người ta tổ chức cho ông gặp đồng bào ở một cái sân vận động của thị xã.

  Họ dựng một cái kỳ đài bằng tre- có vẻ thô sơ thôi. Ông Hồ đứng trên đó với một số cán bộ tỉnh. Lúc hô khẩu hiệu, ông cùng vung tay hô như mọi người:

     _ Đảng Lao Động Việt Nam muôn năm !

    _ Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà muôn năm !

   Ông Hồ vung tay rất cao.

   Nhưng đến khẩu hiệu thứ ba:

 _ Chủ tịch Hồ chí Minh muôn năm !

  Ông Hồ cũng vung tay lên, nhưng chợt nhận ra họ hoan hô mình, vội rụt tay xuống.

   Tôi theo dõi không bỏ sót một cử chỉ nào của ông cụ hôm ấy.

   Ông Hồ bắt đầu nói chuyện với đồng bào.

  Hồ chí Minh không hề tỏ ra là người hùng biện. Nói chậm, ngắn, không lưu loát . Có chuyện lỡ miệng nói hớ, vội lảng sang ý khác. Tôi nhớ ông đang nói dở một câu tục ngữ , “ Thanh cậy thế, Nghệ cậy..” thì vội ngừng lại và lảng sang ý khác. Có lẽ ông không muốn làm mất lòng người Nghệ Tĩnh chăng, vả lại, “ cậy thần “ là cậy thần nào, thần Hồ chí Minh à ? Tôi chắc ông nghĩ thế nên không nói tiếp câu ấy nữa.

   Năm 1969, tôi chuyển ra công tác ở trường Đại học Sư phạm Hà nội. Các anh Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Hoàng Dung thay nhau làm tổ trưởng tổ Văn học Việt Nam hiện đại.  Các anh đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu thơ văn Hồ chí Minh nên thường tổ chức cho chúng tôi gặp những người hiểu biết về Hồ chí Minh như Hoàng văn Hoan, Lê quảng Ba, Họa sĩ Diệp minh Châu, Vũ Kỳ. Nhờ gặp các vị này, tôi được biết nhiều chuyện cụ thể về ông Hồ, trước hết là chung quanh sự kiện ông Hồ bị bắt ở Quảng Tây, Trung Quốc và viết Nhật Ký Trong Tù.

    Ông Hồ về Pắc Bó đầu năm 1941 ngày 28/1. Tháng 8/1942 ông trở lại Trung Quốc để vận động các cơ sở cách mạng bên ấy ủng hộ Việt Minh và mua vũ khí về cho Việt Minh.

   Ông Lê quảng Ba cùng đi với ông Hồ. Đến một địa điểm nào đó thuộc Quảng Tây thì gặp núi lở, một tảng đá văng vào chân Lê quảng Ba. Ba bị đau, cố đi một cách khó khăn. Để động viên người đồng hành với mình, ông Hồ vừa đi vừa kể Chinh Phụ Ngâm. Vưà kể vưà giảng. Té ra xa nước ba mươi năm Hồ chí Minh vẫn thuộc lòng Chinh Phụ Ngâm.

   Nhưng Lê quảng Ba càng đi càng đau. Đến Tĩnh Tây thì phải nghỉ lại tại một cơ sở cách mạng. Hôm sau, ông Hồ tiếp tục lên đường. Cùng đi với ông có một thanh niên Trung Quốc tên Dương Đào- tất nhiên cũng là một cơ sở cách mạng. Đến xã Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây thì bị bọn Hương cảnh Trung Quốc bắt ( Ngày 27- 8- 1942)

    Không phải ông Hồ không có giấy tờ hợp lệ. Hồ chí Minh không thể sơ xuất như thế được. Hồ chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tàu phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở Pắc Bó, có người đã thấy ông phơi đôla cho khỏi ẩm mốc. Bây giờ qua Trung Quốc, ông đem đôla đi để mua vũ khí cho Việt Minh.

    Nhưng cảnh sát Tàu cho là Hán gian, là gián điệp của Nhật lúc bấy giờ đang đánh Trung Quốc. Chỉ có gián điệp mới có đôla thôi chứ, người dân Trung Quốc bình thường làm gì có lắm ngoại tệ thế ! Điều này tác giả Ngục Trung Nhật Ký cũng đã nói rõ trong thơ của mình:

                  Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng

                  Lại bị tình nghi là Hán gian

                     ( Đường đời hiểm trở )

                 Hôm nay xiềng xích thay dây trói

                 Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung

                 Tuy bị tình nghi là gián điệp

                 Mà như khanh tướng vẻ ung dung

                    ( Đi Nam Ninh)

    Các vị lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ ở Cao Bằng như Trường Chinh, Võ nguyên Giáp, Hoàng quốc Việt..nghe tin cụ Hồ bị bắt, hoảng quá, cho người sang Tàu dò hỏi xem nó giam ở đâu, nhưng không tìm được. Qua mấy tháng bặt tin tức , các vị bèn quyết định lật bài ngửa: điện cho Mạc Tư Khoa và cho Tưởng Giới Thạch nói rõ đó là Nguyễn ái Quốc , thủ lĩnh Việt Minh, đề nghị thả ra.

   Biết không phải là Hán gian, các nhà chức trách Trung Hoa bèn chuyển Hồ chí Minh sang chế độ nhà tù khác. Trong Nhật Ký Trong Tù, bài Bốn Tháng có thể coi là bản tổng kết giai đoạn đầu của thời gian 14 tháng ở tù vô cùng cực khổ của ông Hồ , “ Sống khác loài người vừa bốn tháng. Tiều tụy còn hơn mười năm trời.”

    Chuyển sang chế độ nhà tù mới, ông Hồ được tắm rửa, ăn uống khá hơn, thỉnh thoảng được đi dạo quanh nhà lao, đặc biệt được cung cấp rất nhiều sách báo. Tưởng giới Thạch còn tặng ông một cuốn sách của mình. Điều này ông Trần dân Tiên đã có nói nhưng không giải thích lý do vì sao. Điều đáng chú ý là, Nhật Ký Trong Tù có tất cả 113 bài tuyệt cú  thì bài Bốn Tháng Rồi là bài thứ 103. Nghĩa là 10 tháng sau, tác giả chỉ làm thêm ba chục bài nữa thôi. Vì sao vậy ? Vì Hồ chí Minh chỉ làm văn chương khi tuyệt đối không có điều kiện làm chính trị, làm cách mạng. Mười tháng sau này, có điều kiện chuẩn bị cho cách mạng, lập tức ông dồn sức vào đấy: đọc sách báo, dịch tác phẩm “ Tam dân chủ nghĩa “  của Tôn trung Sơn, đọc sách của Tưởng giới Thạch tặng “ Trung quốc đích mệnh vận”

     Nguyên bản Nhật Ký Trong Tù đâu chỉ có thơ, ở cuối tập Nhật Ký còn có tới 20 trang ghi kín tin tức thời sự lấy từ các báo chí được cung cấp gọi là Độc báo lan.

   Mới biết, viết bài Mở đầu ( Khai Quyển) Nhật Ký Trong Tù, Hồ chí Minh đã nói thật lòng mình:

              Ngâm thơ ta vốn không ham

         Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây

             Ngày dài ngâm ngợi cho khuây

         Vưà ngâm vừa đợi đến ngày tự do

  Hồ chí Minh được bọn Tàu Tưởng thả về nước không phải ngẫu nhiên, chắc ông phải khôn khéo thương lượng với chúng và với cánh Nguyễn hải Thần, Nguyễn tường Tam như thế nào đó, nó mới thả cho về nước.

    Hôm tiễn cụ Hồ về nước, Hầu chí Minh ( Trong Nhật Ký Trong Tù , Hồ chí Minh gọi là Hầu chủ nhiệm ( Chủ nhiệm cục chính trị đệ tứ chiến khu) cùng với Nguyễn hải Thần , Nguyễn tường Tam có tổ chức một cuộc liên hoan hẳn hoi ( tháng 12- 1943) . Trong liên hoan , họ có thử tài nhau bằng thách đối.

    Nguyễn hải Thần đưa ra một vế đối khá độc hiểm:

  “ Hầu chí Minh, Hồ chí Minh, lưỡng vị đồng chí , chí giai minh “

  Ông Hồ xin đối :

  “ Nhĩ cách mệnh, ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách “

  Mọi người tán thưởng. Hầu chí Minh ca ngợi “ Đối hay lắm “ .Còn Nguyễn hải Thần thì cung kính nói, “ Hồ tiên sinh tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục “

   Trong cuộc liên hoan, ông Hồ còn góp vui một tiết mục rất đặc biệt: nhảy điêụ Nga-la-tư, một điệu vũ dân gian rất khoẻ của Nga.

  Trong Nhật Ký Trong Tù và hồi ký Vưà Đi Đường Vừa Kể Chuyện, ông Hồ có nói, khi mới ra tù , “ chân mềm như bún “ , đi không được, phải tập leo núi rất khó nhọc, phải bò, phải lết mãi mới đi được. Vậy sao lại có thể nhảy điệu Nga- la – tư ?

   Suy ra ta có thể hiểu như thế này: từ khi biết ông Hồ là ông Hồ, không phải Hán gian, nhà chức trách Trung quốc cho ông được hưởng chế độ quản thúc. Nghĩa là chỉ không được ra khỏi vùng quản thúc thôi, còn thì có thể ra ngoài nhà tù để leo núi, tập đi, tập luyện mắt. ( Cho nên mới có chuyện ở Liễu Châu, ông Hồ đi tắm sông, gặp tướng Tàu Trương phát Khuê. Khoảng giữa tháng 9- 1943, sau một thời gian tập luyện , cuối cùng ông Hồ chẳng những đi vững mà còn trèo được núi. Ông cao hứng làm một bài thơ chữ Hán:

                Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân

                 Giang tâm như kính tịnh vô trần

                 Bồi hồi độc lộ Tây phong lĩnh

                 Nam vọng trùng dương ức cố nhân

                   ( Vừa đi đường, vừa kể chuyện )

  Bài thơ này cụ Hồ đã bí mật gửi về cho các đồng chí của mình ở Cao Bằng ( Viết lên mép trắng của một tờ Quảng Tây nhật báo ). Võ nguyên Giáp trong tập hồi ký Những Chặng Đường Lịch Sử cho biết, “ Bữa đó tôi về cơ quan hội báo tình hình thì thấy anh Đồng, anh Vũ Anh và anh Lã đang xem xét quanh một tờ báo. Các anh chuyển tờ báo và hỏi tíu tít:

  _ Anh xem có đúng là chữ của Bác không?

Đó là một tờ báo ở Trung quốc mới gửi về , trên mép trắng có mấy hàng chữ Hán viết tay. Tôi nhận ra ngay đúng là chữ của Bác. Bác  viết, “ Chúc chư huynh ở nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác, ở bên này bình an .

     Phiá dưới lại có một bài thơ “

 Như thế bài thơ này đã được làm từ khá lâu ( 9- 1943) trước cuộc liên hoan tiễn chân nói trên 3 tháng ( 12- 1943)

   Sau này, Tô Hoài còn cho biết, trong cuộc liên hoan tiễn cụ Hồ về nước, hôm ấy còn có mặt nhà thơ Quang Dũng nữa. Lúc này Quang Dũng đang đi theo Nguyễn tường Tam, Nguyễn hải Thần.

   Về tập Nhật Ký Trong Tù, có người nói ông Hồ đánh mất ngay sau khi ra khỏi tù. Thực ra không phải.

   Ngày 16- 9- 1943, ông Hồ được trả lại tự do, cuốn Nhật Ký Trong Tù vẫn được ông giữ cẩn thận.

   Ngày 14 – 9 – 1955, ông đưa tác phẩm này cho ông Nguyễn Việt, trưởng ban tổ chức triển lãm cải cách ruộng đất tại phố Bích Câu. Ông Hồ nói, “ Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm còn giữ được đến bây giờ, các cô, các chú xem có triển lãm được thì dùng.” Nguyễn Việt đưa vào triển lãm, bày ở phòng “ Ngọn đuốc soi đường của Đảng Cộng sản Đông Dương “.

    Nhật Ký Trong Tù hiện được lưu trữ ở Bảo tàng cách mạng Việt Nam.

  Vào năm 1970, 1971 gì đó, anh Huỳnh Lý được biết Họa sĩ Diệp minh Châu từng sống với Hồ chủ tịch sáu tháng ở Việt Bắc thời kháng chiến chống Pháp, nên tổ chức cho chúng tôi gặp họa sĩ ở nhà riêng.

   Hai vợ chồng cùng là họa sĩ và điêu khắc. Nhà cửa hết sức bề bộn, có thể nói là tanh bành. Đất sét , thạch cao vung vãi. Nước đổ lênh láng trên nền nhà. Khắp nơi lăn lóc những đầu người: đầu Nguyên Hồng, đầu Nguyễn Tuân…bằng đất sét.

     Cách trò chuyện của Diệp minh Tuyền cũng vậy. Chuyện nọ xọ chuyện kia, có lúc lại tạt ngang giới thiệu tranh của vợ.

   Ở đây tôi chỉ lọc ra những gì anh nói về Hồ chí Minh.

   Diệp minh Châu ở với Hồ chủ tịch sáu tháng ở chiến khu Việt Bắc trước khi ra nước ngoài học tiếp về hội họa, điêu khắc. Hằng ngày, anh cùng ăn với Hồ chủ tịch.

    Có một bữa, đến giờ ăn rồi mà mãi không thấy ông Hồ ra. Diệp minh Tuyền ngồi đợi . Cuối cùng ông cũng ra, nhưng lại châm điếu thuốc hút, nghĩa là chưa ăn ngay. Thấy Châu ngồi đợi, ông bảo, “ Chú cứ ăn trước đi “ Tất nhiên Châu không dám, vẫn đợi. Một lát, ông Hồ nói thủng thẳng với họa siõ, “ Về sau chú làm nghề gì thì làm nhé, đừng làm chủ tịch nước , khổ lắm ! “

    Diệp minh Châu không bình luận gì. Tôi cho rằng, Hồ chí Minh vừa qua một cuộc họp trung ương, chắc có điều gì không thuyết phục nổi các đồng chí của mình: người ta đang sùng bái Staline, Mao trạch Đông, không chịu nghe Hồ chí Minh, chắc thế. ( Staline vốn không coi  Hồ chí Minh là cộng sản chuyên chính. Ông Phạm văn Đồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ ( khi hai người cùng công tác ở Liên xô): năm 1950, Staline triệu Hồ chí Minh sang gặp, ông ta không gọi Hồ chí Minh là đồng chí ( tavarich).

   Ở rừng Việt Bắc vào những đêm trăng đẹp, ông Hồ thường rủ Diệp minh Châu ra suối câu cá. Vưà câu vưà trò chuyện. Có lần ông nói về Nhật Ký Trong Tù : “ Hồi ấy bị giam trong tù buồn quá , phải nghĩ ra cách gì để giải trí. Có ba cách: một là nằm ngửa đếm ngói trên mái nhà, đếm hết lại phân loại ngói lành, ngói vỡ . Hai là săn rệp ở những khe ván sàn xà lim. Ba là làm thơ “. Thì ra đối với ông Hồ, làm thơ cũng chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về Nhật Ký Trong Tù như một tập thơ, ông đều từ chối không trả lời, vì coi đó chẳng phải thơ phú gì và bản thân ông cũng không phải nhà thơ. Chẳng qua ở tù buồn quá, không biết làm gì, thì ghép vần chơi, thế thôi ( Trong cuốn sách Vừa đi đường vừa kể chuyện ,ông đã nói như thế ).

     Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá , là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam Ngạn , Hàm Rồng, phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô thị Tuyển và Nguyễn thị Hằng.

    Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên Văn ra gặp Nguyễn thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ,oai phong. Cô khoe vưà được ra Hà nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ.

     Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị chủ tịch nước là, “ Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi.”

    Câu chuyện của Nguyễn thị Hằng về Chủ tịch Hồ chí Minh hôm đó, tôi nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ chí Minh.

     Tôi nghĩ đến câu nói của một nhân vật của Dostoievsky trong cuốn “ Anh em nhà Karamadôp “ : “ Tôi càng yêu nhân loại nói chung thì lại càng ít yêu con người nói riêng, tức tách bạch ra từng người riêng rẽ. Những lúc mơ ước, nhiều lúc tôi đã có dự định say mê phụng sự nhân loại (..) thế nhưng tôi lại không thể sống chung với bất kỳ ai trong một căn phòng.”. Đó là loại người mà Dostoievsky gọi là chỉ có “ tình yêu mơ mộng “ chứ không có tình yêu thực sự.

    Ông Hồ một mặt yêu nhân loại rộng lớn, mặt khác, quan tâm rất cụ thể thiết thực đến những con người cụ thể quanh mình.

   Anh Trần việt Phương có kể một câu chuyện khác cũng tương tự về ông Hồ. Trước căn nhà sàn của chủ tịch luôn có một anh bộ đội đứng gác. Thương anh lính trẻ đứng gác lâu chắc đói bụng, ông cụ đem một quả chuối xuống cho anh ta ăn. Anh lính không dám ăn, vì như thế là vi phạm luật nhà binh. Ông Hồ nói, “ Vậy để bác gác cho cháu ăn, không sợ “.

    Hồ chí Minh có điều này cũng rất quý: trong cách ứng xử với mọi người , tỏ ra rất lịch sự, nghĩa là rất tôn trọng con người. Hồi kháng chiến chống Pháp, Họa sĩ Dương bích Liên được cử đến ở với ông Hồ để vẽ. Sau một thời gian, Tố Hữu đến xem tranh, cho là không đạt . ( Chắc là Duơng bích Liên thích vẽ Hồ chí Minh trong sinh hoạt đời thường, không thể hiện được tư thế lãnh tụ chăng? ). Tố Hữu quyết định cho Dương bích Liên thôi việc và mời đi luôn. Khi ông Hồ biết chuyện này thì Duơng bích Liên đã đi rồi. Hồ chí Minh không bằng lòng với cách đối xử như thế . Ông cho người đuổi theo mời họa sĩ trở lại để có lời với anh và đưa tiễn đàng hoàng.

     Tôi nghĩ Hồ chí Minh thực bụng, không hề coi mình là ông thánh, nghĩa là chỉ muốn được là người với những nhu cầu như của mọi người bình thường. Cũng có thể trong tư cách nhà chính trị lại khác . Vì nhu cầu chính trị , có khi Hồ chí Minh cũng phải “ diễn “ những điều trái với bản chất của mình. Vì thế tôi nói, thực bụng ông Hồ không thích làm thánh nhân chút nào. Thí dụ, mệt cũng muốn nghỉ. Tố Hữu có lần đi với ông, thấy một khẩu hiệu trên tường: “ Chủ tịch Hồ chí Minh muôn năm ! “ , ông nói, “ Hồ chí Minh chỉ muốn nằm ! “

      Ông Hồ cũng thích hút thuốc lá. Và chỉ quen hút thuốc lá ngoại, thuốc lá Mỹ. Ông đã bị chi bộ phê bình và bắt hút thuốc lá nội. Sau thấy ông ho quá, lại cho hút thuốc ngoại như cũ . Anh Hoàng Tuệ kể với tôi chuyện này: hồi kháng chiến chống Pháp , đi công tác ban đêm, tình cờ anh đi cùng với một đoàn người chở thuốc lá ngoại từ vùng tề cho cụ Hồ, có bộ đội đi kèm để bảo vệ.

     Họa sĩ Dương bích Liên , hồi cùng ở với ông Hồ ở Việt Bắc, thấy ông thường hút thuốc lá ngoại, uống rượu Tây và uống sữa tươi . ( Người ta nuôi một con bò để lấy sưã cho ông.)

    Theo Trần đăng Ninh ( Tô Hoài kể lại ), ông Hồ ở phủ chủ tịch, thỉnh thoảng lại đóng bộ complet, cravate, chống ba toong đi dạo một lúc trong khuôn viên cho đỡ nhớ- hẳn là nhớ sinh hoạt hồi ở Paris.

   Hà huy Giáp : một hôm linh mục Phạm bá Trực gặp ông Hồ, bảo ông là surnature ( phi thường). Ông Hồ nói,” Chúng mình là contrenature ( bất bình thường)“.

  Hà huy Giáp có một thời gian ở gần Hồ chủ tịch. Ông kể lại chuyện hồi năm 1950, ông mới lấy vợ được một năm thì bị điều ra công tác tại Việt Bắc và ở với cụ Hồ. Ông hỏi ông Hồ, “ Sao Bác không lấy vợ mà chịu được?” Ông Hồ nói, “ Mình cũng như các chú thôi, từ rốn trở xuống là 18 tuổi. Từ rốn đến cổ là 40 tuổi. Từ cổ đến đầu là 60 tuổi, Kinh nghiệm của dân ta là lao động suốt ngày, mệt thì ngủ luôn. Không có việc gì thì đổ trấu ra xay. Buồn ngủ hãy ngủ. Tỉnh ngủ, dậy liền, đừng có nằm mãi trong chăn. Đừng mặc đồ láng, mềm, mỏng. Nên mặc quần aó vải. Có cán bộ lên công tác ở Việt Bắc, rỗi việc, ngồi tán gẫu. Bác bảo cởi lạt sàn nhà ra, sau đó lại bảo buộc lại. Để khỏi “ nhàn cư vi bất thiện”.

    Các anh Huỳnh Lý , Nguyễn Trác và Hoàng Dung còn tổ chức cho chúng tôi gặp ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của cụ Hồ.

   Cuộc gặp Vũ Kỳ không giúp tôi biết gì thêm về Hồ chí Minh, ấn tượng để lại chỉ là hình ảnh của chính Vũ Kỳ. Ông bắt chước tác phong của cụ Hồ từ cách ăn mặc, cách nói năng. Có cái áo Tôn trung Sơn khoác ngoài không mặc lại vắt lên vai. Đi guốc. Câu đầu tiên ông hỏi chúng tôi, “ Các đồng chí có bao nhiêu nữ ?”.

  Anh Nguyễn Khải có lần gặp Vũ Kỳ cũng có nhận xét y như thế : để râu dài, áo cánh lụa. Đi guốc. Cầm quạt phe phẩy…

     Tôi nghĩ bụng, đã là gia nhân thì bao giờ cũng là gia nhân. Gia nhân của người thường hay gia nhân của vua chúa thì cũng thế.

    Về chuyện làm thơ của Hồ chí Minh, tôi vẫn cho rằng ông Hồ có ý thức sáng tác hai loại : một là loại thơ tuyên truyền thường dùng lối ca vè, cốt minh họa đường lối chính trị. Những bài thơ chúc tết, mừng xuân cũng thuộc loại này. Thơ này không sáng tác theo quy luật nghệ thuật. Hai là loại thơ nghệ thuật diễn đạt tình cảm , cảm xúc thẩm mỹ. Loại này ông cốt làm để giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng, hoặc ở trong nhà tù, khi hoàn toàn không có cách gì để làm việc cho cách mạng.

   Nhiều thằng ngu hoặc cố tình không hiểu đã cố tình phê phán tôi về sự phân biệt này: thơ Bác Hồ, thơ nào chả là thơ nghệ thuật và thơ Bác là thơ cách mạng sao lại bảo là để giải trí.

    Tôi cho rằng chính cụ Hồ có ý thức phân biệt như vậy.

   Người ta thường kể chuyện này để ca ngợi đức tính giản dị, khiêm tốn của cụ Hồ khi làm những bài thơ tuyên truyền, cụ Hồ thường chuyển cho nhiều người xem, kể cả chú liên lạc, để nhờ góp ý sữa chữa cho thật dễ hiểu, dễ nhớ đối với mọi người. Thế là thơ tuyên truyền chứ còn gì nữa. Tuyên truyền thì cốt nhất là mọi người đều dễ hiểu, dễ nhớ, thế thôi. Nghệ thuật gì mà lại góp ý tập thể như thế !

   Trước kia, hàng năm, vào dịp 19/5, tôi thường được nhiều nơi mời đi nói chuyện về thơ Hồ chủ tịch. Thường có chị Trần thị Tuyết cùng đi để ngâm thơ minh họa. Chị Tuyết cho biết, khi Hồ chủ tịch còn sống, vào dịp cuối năm, chị thường được gọi đến để ngâm thơ chúc tết của chủ tịch và phát luôn trên đài. Tới dự có cụ Hồ và mấy ông trong Bộ chính trị. Khi ngâm thơ chúc tết, chị để ý thấy ông Hồ có vẻ không quan tâm lắm. Ngâm xong ông thường bảo chị chuyển ngay sang ngâm Kiều. Tôi hỏi, thường chị ngâm đoạn Kiều nào. Chị nói, thường Bác bảo ngâm đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích.

     Đây là đoạn Kiều nhớ nhà, nhớ người yêu, nhớ quê. Một đoạn thơ buồn.

                                     *   *  *

      Chung quanh Hồ chí Minh, đến nay vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn không biết đến bao giờ mới được làm sáng tỏ.

      Chẳng hạn chuyện vợ con thế nào ? Trung Quốc đã công bố chuyện Hồ chí Minh kết hôn với Tăng tuyết Minh. Rồi chuyện cô Hà thị Xuân người dân tộc Tày và các con ( Trung va Trinh gì đó ). Ông Trần Độ cho biết, vì cô Xuân cứ đòi chính thức hoá, người ta bèn giao cho Trần quốc Hoàn thủ tiêu cả ba chị em.

     Chuyện này nhiều người biết. Có người đã viết ra như Vũ thư Hiên trong cuốn Đêm Giữa Ban Ngày. Riêng tôi được biết do giáo sư Ngô thúc Lanh được ông Văn Tân kể cho nghe và truyền đạt lại, hai là do một giáo sư dạy Sử ở Đại học Sư phạm , ba là Dương thu Hương, bốn là ông Trần Độ. Nhưng gần đây có người điều tra ra vụ việc này rất tỉ mỉ, rõ ràng, và công bố cụ thể trên Internet: cô Xuân bị thủ tiêu vì hai lý do: một là cô đòi chính thức hoá, điều này phải do Đảng quyết định, mà Đảng thì không thể chấp nhận. Hai là cô bị Trần quốc Hoàn hãm hiếp nhiều lần. Hoàn tuy đe dọa cô , nhưng vẫn sợ bị cô tố cáo. Hắn sai Tạ quang Chiến đập chết, rồi ban đêm, đặt xác cô ở quãng đường Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ôtô cán lên, tạo ra một vụ tai nạn giao thông giả . Còn ba chị em cô Xuân là ba chị em họ. Một cô tên Nguyệt , một cô tên Vàng. Hai cô này cũng bị thủ tiêu vì đều biết chuyện. Nguyệt mất tích, không rõ bị thủ tiêu ở đâu. Còn cô Vàng thì bị đập chết và quăng xác xuống sông Bằng Giang, Cao Bằng.

         Theo Tô Hoài, có một hồi người ta định lấy vợ cho cụ Hồ. Một số cô gái đến cho ông chọn. Ông không chọn ai vì thấy đàn bà chẳng ý tứ gì, cứ phơi quần slip ..rất vô ý. Có một cô người Huế, ông Hồ thích. ..Nhưng cô này hói đầu, ông cũng không lấy. Ông nói, nếu có một cô công chúa nước nào thì lấy –lấy vì mục đích chính trị- chắc ông nói cho vui.

      Tô Hoài cũng cho biết, Phạm văn Khoa thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng Tàu, có lần cùng đi với Hồ chí Minh sang Trung quốc( đi xe lửa ). Một buổi sáng, Khoa thấy ông Hồ ở toilet ra, cầm slip vừa giặt, nói, “ Không có vợ, khổ thế ! “

Còn chuyện xuất dương của Hồ chí Minh? Có phải lần đầu tiên ra nước ngoài là đi Pháp từ cảng Nhà Rồng ?

   Anh Nguyễn Nguyên ( tức Nguyễn ngọc Lương) , một cán bộ tình báo cao cấp của ta, cho tôi biết, Nguyễn tất Thành lần đầu ra nước ngoài là sang Trung quốc theo đường dây của Phan bội Châu. Tất Thành đóng vai một người bán nước mắm, từ Nghệ An ra- giao liên là cô Chu bích Viêm, tức bà cả Chính ( Nguyễn Nguyên đã gặp bà cả Chính). Cơ sở cách mạng của Phan bội Châu ở Hải Phòng,lúc bấy giờ là hai cô Nhung và Sâm. Còn cơ sở Móng Cái  là hai cô con gái của ông Ký nhà đoan tên là Yến và Nhạn.

    Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái, sang Trung quốc gặp Lý đông A ở Liễu Châu.

   Hồi ấy , ở Việt Nam chưa có phong trào Cộng sản.

 Sau này, cụ Nguyễn sinh Sắc mới nhờ cụ Phan Chu Trinh bảo lãnh cho Nguyễn tất Thành đi Pháp.

–           Còn chuyện đường lối cách mạng của Hồ chí Minh?

 Theo Hà huy  Giáp , người đầu tiên phê phán Nguyễn ái Quốc có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa là Trần Phú. ông Đào Phan cung cấp cho tôi một tài liệu: khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hồng Kông, Nguyễn ái Quốc có đưa ra một văn bản gọi là chính cương vắn tắt, phân tích tình hình giai cấp sát với thực tế Việt Nam, nhất là về giai cấp địa chủ ( Chế độ công điền khiến điạ chủ không phát triển được, vì thế điạ chủ Việt Nam có thể phân hoá được). Staline bèn phái Trần Phú về nước, vất chính cương của Nguyễn ái Quốc đi, thay bằng luận cương Trần Phú đã được đóng dấu ở Mạc tư khoa và đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương. Staline còn chủ trương vô hiệu hoá Nguyễn ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam.

    Xem chừng Hồ chí Minh thích Tam Dân chủ nghĩa của Tôn dật Tiên hơn, ông từng dịch cuốn “Tam Dân chủ nghĩa” hồi bị giam ở nhà tù Quảng Tây, Trung quốc. Và “ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc “ chính là khẩu hiệu cách mạng của Tôn trung Sơn.

   Lại có chuyện này: Nguyễn hữu Đang có lần nói với Hoàng ngọc Hiến: Sau Cách mạng tháng Tám, Hồ chí Minh có nói với Đang: Bảo Đại nó thoái vị sớm quá ! Ý ông muốn Bảo Đại cứ tiếp tục làm vua để có thể thành lập ở Việt Nam chính thể Quân Chủ lập hiến mà ông cho là thích hợp với nước mình. Sau khởi nghĩa tháng Tám, ông ở chiến khu về muộn, lúc đó phái đoàn Trần huy Liệu, Huy Cận đã lên đường vào Huế nhận ấn kiếm của Bảo Đại. Ông muốn cho người đuổi theo để gọi trở lại , nhưng không kịp. Anh Phạm Tuyên cho biết, ông cũng rất tiếc Phạm Quỳnh đã bị Việt Minh ở Huế thủ tiêu. Chuyện lỡ rồi,ông chỉ còn biết mời mấy người con của Phạm Quỳnh ra gặp để an ủi( ông gặp hai bà con gái của Phạm Quỳnh ). Hồi mới sang Pháp , Nguyễn tất Thành đã từng gặp Phạm Quỳnh ( cùng với Phan chu Trinh, Phan văn Trường ). Chắc ông đã hiểu Phạm Quỳnh không phải người bán nước.

    Ngoài ra , từ hồi dự hội nghị Fontainebleau ở Paris( 1946) , Hồ chí Minh đã muốn liên hệ với Mỹ và sau này muốn thương lượng hoà bình với chính quyền Sài gòn.

   Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm lịch sử quan trọng : năm 1945, chấm dứt đại chiến thứ hai và cách mạng tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp ( đoán từ năm 1950); năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ ( đoán năm 1960).

   Theo Trần quốc Vượng, vì ông có tử vi .

   Năm 1943, khi Hồ chí Minh viết câu kết bài Diễn Ca Lịch Sử Nước Ta: “ Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành. “, , thì ở hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu cường trong phe đồng minh là Staline, Churchhill, Roosevelt đoán, chiến tranh chấm dứt năm 1946.

    Không lẽ gì Hồ chí Minh ở Việt Bắc, với một đài bán dẫn rất thô sơ , lại đoán thời cuộc thế giới  chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến chống phát – xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì !

     Trần quốc Vượng kết luận: cụ Hồ có tử vi.

      Vượng cũng là tay rất sành sỏi  tử vi. Anh nói ở thu viện quốc gia có cuốn Tử vi phú đoán của Lê quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn . Cô thủ thư nói sách không còn. Bố Trần quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: ông Hoàng minh Giám đến lấy cho cụ Hồ đọc rồi. Sách đang ở chỗ cụ Hồ.

      Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh ( bản đánh máy lúc chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết :” Năm 1945, khi quân Tưởng đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:

–           Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì  Tàu, bên nào đáng sợ hơn ?

–           Tây cũng không đáng sợ, Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là các chú. “

      Ông Hồ trả lời như vậy.

   Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ chí Minh. Ngày nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “ các chú “.

   Một câu hỏi khác đặt ra: cụ Hồ có ý thức tự thần thánh hoá mình không ? Đã nói ông Hồ không thích làm ông thánh, nay lại nói ông có ý thức thần thánh hoá ? Tôi cho hai chuyện có chỗ khác nhau. Vì yêu cầu chính trị, có khi phải dùng mưu mẹo, có khi phải diễn kịch nữa- Về mặt này,ông Hồ cũng khá “ siêu “ đấy. Dân tộc Việt Nam là dân tộc nông dân nên có tâm lý trọng người già và sùng bái thần thánh, chứ không tin ở người trẻ, người thường.  Cho nên ông Hồ, năm mươi tuổi đã để râu dài và xưng là già Hồ. Và cũng không phản ứng gì khi người ta gọi là cha già dân tộc. Theo Trần quốc Vượng, hồi kháng chiến chống Pháp, Trung ương có giao cho ông Trần huy Liệu bình tán những câu sấm Trạng Trình ứng vào cụ Hồ rồi cho truyền đi để tạo thành dư luận quần chúng. Đó là chủ trương của Hồ chí Minh hay chỉ là “ sáng kiến “ của Đảng ngoài ý kiến của ông Hồ ? Nhưng ông Trần dân Tiên viết “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động cuả Hồ chủ tịch” , có chỗ ví cụ Hồ như con rồng ẩn hiện trong mây. Mà Trần dân Tiên chính là ông Hồ chứ ai !

      Như đã nói, vì lý do chính trị, Hồ chí Minh nhiều khi phải diễn kịch, sống cứ phải “ diễn “ như thế , kể cũng khổ, “ Không có gì quý hơn độc lập tự do “, ‘ Diễn “ tức là bị tước đi của mình quyền sống tự do chứ còn gì nữa ! Liệu đã ai hiểu cho ông cụ nỗi khổ này ?

      Những trò diễn của Hồ chí Minh nói chung có tác dụng chính trị rất tốt đối với tầng lớp bình dân. Nhưng đối với trí thức,có khi lại phản tác dụng. Năm 1946, Hồ chí Minh ở Hội nghị Fontainebleuu về nước có Trần hữu Tước và một kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu cụ Hồ diễn trò nhẩy son lá son với các thủy thủ. Quang thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không theo Hồ chí Minh nữa. Theo Tô Hoài , ông ta sau này về sống ở Nha Trang. Nhưng Hoàng ngọc Hiến lại đưa ra một thông tin khác. Trần hữu Tước sau này có gặp Quang rửa xe máy ở Sàigòn.

   Cuối cùng là ngày sinh và ngày mất của Hồ chí Minh. Ngày sinh cũng do ông tự đặt ra, ai cũng biết rồi. Còn ngày mất? Đúng cái ngày ông đọc tuyên ngôn độc lập ( 2/9).

    _ Nhưng chủ động chết làm sao được khi người ta luôn chầu chực quanh mình – Tôi cãi lại Hiến.

    _ Thì cũng có lúc người ta ra ngoài chứ – Lúc ấy chỉ cần dứt hết dây dợ của cái ống thở ôxy là chết luôn chứ sao !Hiến khẳng định thế .

     Một phán đoán không phải là không có lý !

                                Hà nội ngày 6. 7. 2006

                       NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

Advertisements

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s