BÁC HỒ VỚI TẾT MẬU THÂN NĂM ẤY

ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU

Đầu xuân năm 1998, ông Vũ Kỳ, người hầu cận của Hồ chí Minh, tung ra bài viết “ Bác Hồ với tết Mậu Thân năm ấy “ trên một số tờ báo như báo Văn Nghệ, Tiền Phong, Nghệ An, trong đó Vũ Kỳ hé mở có chuyện bất thường trong chuyến bay ban đêm ngày 23 tháng 12 năm 1967.

  Bài báo có đoạn viết,” Bây giờ tối thứ bảy , ngày 23 tháng 12 ,máy bay đưa Bác đến vùng trời Hà nội . Lượn hai vòng vẫn chưa hạ cánh được vì đèn chỉ huy trên sân bay chệch 15 độ. Đồng chí lái giàu kinh nghiệm quyết tâm hạ cánh không theo đèn. Rất may là an toàn. Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm văn Đồng, Lê đức Thọ ra đón Bác tại sân bay, đưa Bác về nhà và báo cáo công việc với Bác “

  Thật ra đọc đoạn văn trên cũng không ai hình dung ra được một âm mưu giết Hồ chí Minh bằng tai nạn phi cơ đã xảy ra nhưng không thành công.

Sau này có bài nói chuyện của nhà văn Sơn Tùng ngày 27 tháng 4 năm 2001 tại trường Cán bộ quản lý giáo dục đào tạo, trong đó ông Sơn Tùng kể lại chi tiết bí ẩn của chuyến bay trên và người ta có thể đưa đến kết luận là có âm mưu của bọn đàn em muốn dùng tai nạn phi cơ để giết Hồ chí Minh.

 Nên nhớ chuyến bay chỉ có 3 người: viên phi công, ông Vũ Kỳ và Hồ chí Minh. Sơn Tùng kể rõ mẫu đối thoại giưã ông Vũ Kỳ và người phi công hốt hoảng khi đèn hiệu trên sân bay chệch hướng 15 độ nên không thể đáp bằng cách nhìn đèn hiệu. Và không thể liên lạc với bên dưới sân bay bằng vô tuyến vì bị cắt đứt. Có lẽ ông Sơn Tùng có dịp nói chuyện với ông Vũ Kỳ và được ông Vũ Kỳ kể lại chi tiết chuyến bay. Vì ông Sơn Tùng chắc cũng không biết người phi công ấy sau này ở đâu và chắc chắn Sơn Tùng cũng không có cơ hội nói chuyện với Hồ chí Minh về chuyến bay khó hiểu này. Xin đọc kỹ bài bên dưới để thấy Sơn Tùng khéo léo tố cáo âm mưu bọn đàn em dùng tai nạn phi cơ để giết Hồ chí Minh.

   Một chuyến bay chở Chủ tịch nước như Hồ chí Minh mà người phi công lái phi cơ không liên lạc được vô tuyến với sân bay bên dưới.. Đèn hiệu sân bay lại đổi nên không dựa theo đèn mà đáp được nên coi như bị mù mắt, đành phải đáp phi cơ theo trí nhớ ! Nói những điều này ra để thấy âm mưu bọn đàn em dùng tai nạn phi cô để mưu sát Hồ chí Minh coi như đã quá rõ ràng. Số Hồ chí Minh chưa chết trong chuyến bay này vì người phi công quá tài giỏi, đáp phi cơ an toàn dù lái phi cơ bằng trí nhớ !

   Vũ Kỳ cũng như Sơn Tùng đều muốn tố cáo ra âm mưu giết Hồ chí Minh bằng tai nạn phi cơ , nhưng vì còn sống trong chế độ Cộng sản , hai ông không thể nói toạc móng heo ra mà chỉ cung cấp chi tiết trục trặc khó hiểu của chuyến bay và dành sự kết luận cho người đọc. Đó là một cách viết khôn ngoan nhằm chuyển tải bí mật động trời trên báo chí công khai của chế độ Cộng sản Việt Nam.

  Sơn Tùng được đánh giá là “ nhà Hồ chí Minh học “ chuyên nghiên cứu về Hồ chí Minh và đã có nhiều mặt sách viết về Hồ chí Minh. Nói là nghiên cứu chứ thật ra Sơn Tùng là một người đi tìm những mẫu chuyện thuộc loại huyền thoại để “ thần thánh hoá “ Hồ chí Minh.

 Chuyện Sơn Tùng phỏng vấn cựu Đại tá Cao Nham nói đến chuyện Lê Duẩn xin Hồ đánh trận Mậu Thân, nếu không thành công thì xin từ chức xem ra không đáng tin lắm. Vì đến thời kỳ Mậu Thân thì Lê Duẩn coi như tước hết quyền lực của Hồ chí Minh rồi, bởi vậy mới có chuyện Lê Duẩn và Lê đức Thọ  tống cổ Võ nguyên Giáp sang Hunggary từ năm 1967 ( với lối giải thích ngoại giao là cho Giáp đi chữa bệnh !) và đưa Hồ qua Bắc Kinh ngồi chầu rìa trong tết Mậu Thân. Duẩn coi như nắm hết quyền lực rồi cho nên chuyện xin xỏ Hồ để đánh trận Mậu Thân là chuyện khó có thể xảy ra.

   Không giết được Hồ bằng tai nạn phi cơ năm 1967, bọn Lê Duẩn , Lê đức Thọ quyết định dùng thuốc độc giết Hồ năm

1969 bằng một kịch bản khéo léo nhằm che mắt thế gian. Đó là sự tiết lộ của các bác sĩ Hà Nội trong một bài viết nhan đề “ Một nghiên cứu khoa học về Hồ chí Minh” gửi đi từ Hà Nội ra hải ngoại vài tháng trước đây, ( Xin mời vào www.nsvietnam..com  bấm vào tên Trần viết Đại Hưng, rồi bấm vào bài số 120) Nhửng bạo chúa bị đàn em giết vào lúc cuối đời ) để đọc bài nghiên cứu giá trị này). Các bác sĩ căn cứ trên những kiến thức y khoa dể đi đến kết luận là Hồ chí Minh bị đầu độc chết chứ không chết vì bệnh hoạn tuổi già.

 Phải nói hai nhân vật bị tình nghi tạo dựng kịch bản tai nạn phi cơ cũng như y khoa trị bệnh để giết Hồ chí Minh là Lê Duẩn và Lê đức Thọ vì đã có nhiều chuyện kể lại ghi nhận hai nhân vật này tỏ ra coi thường và khinh bỉ Hồ. Trong khi ba nhân vật Trường Chinh, Phạm văn Đồng và Võ nguyên Giáp không bị coi là nghi can trong chuyện giết Hồ.

  Đơì đúng là một vở kịch và những người trên sân khấu là những diễn viên . Hãy nhìn Lê Duẩn khóc lóc thảm thiết như cha chết trong đám tang của Hồ chí Minh thì có ai ngờ rằng chính Lê Duẩn là chính phạm trong chuyện giết Hồ chí Minh và Lê đức Thọ là tòng phạm.

   Ngày chết của Hồ chí Minh( 2/9 / 1969)  trùng với ngày quốc khánh có thể không phải là sự ngẫu nhiên. Khi biết bọn đàn em gian ác quyết tâm giết mình bằng thuốc độc nên Hồ chí Minh, bằng một cách nào đó, quyết tâm chết đúng ngày 2 tháng 9 để gây sự bẽ bàng khó xử cho bọn giết ông. Đây là cú chơi khăm cuối đời nhắm vào những kẻ ám hại ông. Ông đã tiên liệu đúng vì bọn đàn em công bố  sai ngày ông qua đời là 3 tháng 9 thay vì 2 tháng 9 bởi  chúng lúng túng về việc tổ chức tang lễ cho chủ tịch nước như ông ( quốc tang) vào ngày quốc khánh! Sau này vì có sự lên tiếng của nhiều nhân chứng, chế độ Cộng sản mới “ cho “ Hồ chí Minh chết đúng ngày 2 tháng 9 là ngày chết đích thực của ông.

    Sơn Tùng nói đến 10 nỗi đau của Hồ chí Minh do Hoàng Tùng công bố trong cuốn sách của ông nhưng chỉ công bố được có 8 nỗi đau , dấu đi 2 nỗi đau của Hồ. Cũng xin nói thêm là cuốn sách của Hoàng Tùng viết về Hồ chí Minh này mới xuất bản là bị tịch thu ngay. Thật ra muốn biết nỗi đau sâu kín của Hồ thì phải đọc chúc thư thống thiết của Hồ viết ngày 14 tháng 8 năm 1969 và sau đó được báo Con Ong ở Pháp và Thức Tỉnh ở Mỹ công bố vào thập niên 1980. ( Xin vào www.nsvietnam.com ,  bấm vào tên Trần viết Đại Hưng rồi bấm vào bài số 114) Một cách lý giải về chuyện Hồ chí Minh bị mất quyền lực lúc cuối đời). Nên nhớ đây là di chúc viết tay chứ một bản văn đánh máy cũng khó thuyết phục thiêh hạ rằng đó là di chúc của Hổ chí Minh. Những ai còn nghi ngờ xin lấy chữ viết của di chúc này đem tới một văn phòng kiểm tự chuyên nghiệp để so sánh với nét chữ của di chúc Hồ chí Minh để lại cho chế độ Hà nội để tìm ra sự thật.

   Ngay cả trong di chúc Hồ chí Minh để lại cho chế độ Cộng sản Việt Nam, ở trang đầu của di chúc có chữ ký của Lê Duẩn chứng nhận giống như lời phê của thầy giáo dành cho học trò. Chỉ một điểm này thôi cũng đủ cho thấy Lê Duẩn hoàn toàn khống chế Hồ chí Minh vào giai đoạn cuối cuộc đời của Hồ.

   Lịch sử nghề gián điệp cũng như văn học đã cho thấy chưa có trường hợp nào giả chữ viết thành công. Chuyện giả chữ viết chỉ qua mặt đuợc người thường chứ không qua mặt được nhân viên kiểm tự chuyên nghiệp. Chữ viết cũng như dấu tay, không bao giờ có thể lẫn lộn người này với người khác được. Điều đó cho thấy di chúc Hồ chí Minh viết ngày 14/8/ 1969 là di chúc thật. Có đọc bản di chúc này thì mới thấy nỗi đau sâu kín, tức tưởi cuả Hồ. Ai cũng nghĩ rằng ông có quyền lực ghê gớm lắm nhưng ông bị bọn đàn em tước hết quyền hành và cho Bác sĩ Tôn thất Tùng chích thuốc độc từ từ cho chết dần chết mòn một cách thê thảm. Ông cũng nói rõ Lê Duẩn và Trần quốc Hoàn đến gặp ông và yêu cầu ông viết di chúc theo ý của chúng. Sở dĩ ông bị hạ bệ như vậy vì ông phạm tội toan bắt tay với Tổng thống Ngô đình Diệm ở miền Nam năm 1963. Ngô đình Diệm cũng bị giết vì âm mưu bắt tay này với Hồ chí Minh.

  Sơn Tùng ca tụng thái độ cầu hiền của  Hồ chí Minh khi Hồ chí Minh  ôm hôn thắm thiết  cụ Huỳnh thúc Kháng từ Trung ra Hà nội hợp tác trong chính phủ Liên Hiệp mà Hồ là chủ tịch và nói, “ Cụ ra đây là an dân lạc quốc” . Đó là thái độ niềm nở lúc ban đầu gặp gỡ thế thôi chứ sau này Hồ chí Minh để cụ Huỳnh thúc Kháng  chầu rià, ngồi chơi xơi nước và  không giao công việc gì cụ thâể cả. Cái ưu điểm  cầu hiền mà Sơn Tùng nêu ra để ca tụng Hồ chí Minh chỉ là cái giả dối trong trường chính trị của Hồ mà thôi chứ Hồ chí Minh không có tốt lòng, tốt bụng chi cả.

  Năm 1952 bạo chúa Mao trạch Đông của Trung Cộng và đồ tể Stalin của Liên xô gọi người học trò nhỏ Hồ chí Minh sang, chỉ thị bắt buộc là phải tiến hành cuộc cải cách ruộng đất. Hồ chí Minh thi hành lệnh của hai quan thầy kính yếu và cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất được tiến hành, giết hại cả trăm ngàn người dân Việt vô tội từ tháng 12/1953 đến tháng 7/1956. Vào giai đoạn cuối của cuộc cải cách thì có sự cố nhân dân nổi loạn ở Quỳnh Lưu , Nghệ Tĩnh để chống lại. Sau dó mới có trò hề khóc lóc xin lỗi của Hồ chí Minh, Đại tướng Võ nguyên Giáp ra sân vận động Hàng Đẫy đọc bài xin lổi nhân dân, Hồ chí Minh đưa Giáp ra đọc lời xin lỗi với dụng ý là lấy cái hào quang chiến thắng Điện Biên Phủ để vuốt ve sự phẫn nộ đang dâng trào của toàn dân vì sự giết chóc kinh hoàng . Nước Việt Nam từ thời lập quốc chưa có thời kỳ nào tàn bạo, độc ác như thời kỳ này. Với cương vị chủ tịch nước, chắc chắn bàn tay Hồ chí Minh có nhuốm máu nạn nhân cải cách ruộng đất. Sau này người ta còn tìm được trong thư khố Nga lá thư bằng tiếng Nga Hồ chí Minh gửi cho Stalin báo cáo về tình hình cải cách ruộng đất. Trường Chinh là tổng bí thư trong thời kỳ cải cách ruộng đất và cũng có bàn tay nhuốm máu nạn nhân cải cách. Trường Chinh bị hạ bệ sau cải cách ruộng đất nhưng sau đó được bổ làm chủ tịch quốc hội một thời gian dài. Sau khi Tổng bí thư Lê Duẩn qua đời, Trường Chinh lên làm Tổng bí thư dự khuyết một thời gian và sau đó bị Lê đức Thọ cho người đến nhà giết chết vì ghen tức và tranh giành quyền lực. ( theo sự ghi nhận của nhà văn Vũ thư Hiên trong hồi ký “ Đêm giữa ban ngày” ). Trường Chinh cũng đã chết một cái chết đau đớn, thảm khốc y như những nạn nhân cải cách ruộng đất do ông lãnh nhiệm vụ thi hành. Âu đó là định luật nhân quả, vay trả của trời đất !

 Chuyện Hồ chí Minh khóc lóc xin lỗi có thể vì hối hận đã giết nhiều người vô tội mà cũng có thể là một biện pháp vuốt ve của một nhà chính trị gian hùng bá đạo để làm lắng dịu sự phẫn nộ đang trào dâng  của đồng bào có thể đưa đến sự bất ổn chính trị không hay cho chế độ cầm quyền.

 Chuyện Sơn Tùng trình bày trong bài viếr mô tả  Hồ chí Minh miễn cuỡng không muốn làm cải cách là chuyện bênh vực cho Hồ chí Minh một cách không bằng chứng. Nếu có lòng thương dân sâu xa thì không bao giờ Hồ chí Minh nghe lời hai tên đồ tể ngoại bang Mao và Stalin để tiến hành cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu có một không hai trong lịch sử giết hại hàng trăm ngàn đồng bào ruột thịt của mình. Con người Hồ chí Minh thực sự không thánh thiện , nhân ái như Sơn Tùng cảm nhận. Sơn Tùng rõ ràng không thành công trong chuyện bênh vực tội ác của Hồ chí Minh trong vụ cải cách ruộng đất. Sơn Tùng thuộc loại viết lách “ phong thánh “ cho Hồ chí Minh. Chuyện gì tốt đẹp của Hồ chí Minh thì ca tụng tối đa, chuyện gì độc ác, xấu xa  không hay thì tìm đủ lý do bào chữa bao biện cho khuyết điểm cuả “ ông thánh “ Hồ chí Minh, Sơn Tùng không có được phong cách viết sử của những sử gia ở những nuớc tự do” , họ phê phán ưu khuyết điểm của nhân vật lịch sử một cách công minh và công  bằng, không thiên vị.

    Chuyện hai bài thơ Hồ chí Minh làm lúc 5 tuổi mà Sơn Tùng lấy được từ anh của Hồ chí Minh cũng là một cách ‘ thần thánh hoá’ con người siêu đẳng Hồ chí Minh mà thôi.

Giết người rồi vuốt ve, xin lỗi vốn là ngón nghề sở trường của người Cộng sản mà Hồ chí Minh là bậc tổ sư về ngón nghề tàn nhẫn, độc ác này.

   Sơn Tùng  nói đến cái đau của Hồ chí Minh khi cố vấn Tàu đem bắn bà địa chủ Nguyễn thị Năm, vốn là một ân nhân của kháng chiến. Với cương vị là chủ tịch Đảng và chủ tịch nước nhưng hầu như Hồ chí Minh không có quyền gì cả. Ông không đồng ý bắn bà Nguyễn thị Năm nhưng ông không có biện pháp nào ngăn chận cả cho đến khi bà Nguyễn thị Năm bị hành hình. Thế thì bao nhiêu xuơng máu dân đổ ra để giành độc lập nhưng chẳng thấy độc lập ở đâu dù đã đánh thắng Pháp ở Điện Biên Phủ. . Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Hồ chí Minh đành ngồi nhìn cố vấn Tàu đem người ân nhân kháng chiến , con dân nước Việt Nguyễn thị Năm ra bắn mà không can thiệp được gì sao ?Hồ chí minh thực sự không có quyền hay không muốn can thiệp ?  Hồ chí Minh đúng là  không phải loại người thần thánh siêu việt,quyền lực tuyệt đối như nhà văn Sơn Tùng vẫn thêu dệt , tưởng tượng . Ngay cả chuyện Hồ chí Minh khóc lóc ân hận sau cải cách ruộng đất cũng chỉ là một huyền thoại vì không ai chứng minh Hồ khóc ở đâu và khóc lúc nào. Có lẽ guồng máy tuyên truyền phổ biến huyền thoại khóc này để xoa dịu sự thù hận đau khổ của các nạn nhân cải cách ruộng đất.

    Trí trá, gian ngoan đã trở thành bản chất của con người gian hùng Hồ chí Minh. Những nỗi đau của Hồ chí Minh mà Hoàng Tùng và Sơn Tùng kể ra không biết có thật hay không nữa hay đó chỉ là những thủ đoạn chính trị của tay ma đầu chính trị quỷ quyệt Hồ chí Minh. Thật không thể nào biết rõ đâu là nỗi đau thật , đâu là nỗi đau giả của con người muôn mặt Hồ chí Minh. Ông là một kịch sĩ đại tài nên khó ai biết rõ con người thật của ông.  Cần có thêm thời gian và nhân chứng và hy vọng chế độ Cộng sản sẽ sớm sụp đổ ở Việt Nam để có nhiều sự thật về Hồ chí Minh được phơi bày ra trước ánh sáng của thế gian.

   Nhà văn Sơn Tùng hình như còn sống ở Việt Nam. Hy vọng Sơn Tùng sẽ còn sống và nhìn thấy thêm những sự thật phũ phàng khác về Hồ chí Minh chứ Hồ chí Minh không thánh thiện , siêu việt như ông đã viết và nói nhiều trong những năm vừa qua.

             Los Angeles tháng 4 năm 2010

             TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG

BUỔI NÓI CHUYỆN CỦA NHÀ VĂN SƠN TÙNG NGÀY 27/4/ 2001 TẠI TRƯỜNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

        …( đoạn này nghe không rõ ).. Ban chấp hành Trung ương  tán thành đều bị bác bỏ. Đó là tháng 10- 1930, một hội nghị cán bộ lấy dự thảo luận cương chính trị của đồng chí Trần Phú  làm đường lối ( Hội nghị này chưa thông qua được luận cương). Bác Hồ bị đẩy lùi vào bên trong. Năm 1935, Đại hội Đảng lần thứ nhất họp tại Ma- Cao, một lần nữa Hà huy Tập là Tổng bí thư, xoá tư tưởng, xoá đường lối của Nguyễn ái Quốc. Mãi đến năm 1941, Bác Hồ về nước cho đến năm 1951 , Đại hội 2 lại bị cái “ thiểu số phục tùng đa số “ , lấy “ tư tưởng Mao “ vào điều lệ nên đến năm 1951, cụ Hồ lại bị “ khoá “ . Bởi vì Hồ chủ tịch chỉ còn là Chủ tịch ban chấp hành chứ không còn là Chủ tịch Đảng. Bác quyết định điều gì cũng còn phải được Ban chấp hành thông qua.

   Quan điểm tư tưởng Hồ chí Minh được mở ra từ năm 1941 khi cụ về Pắc Bó, thành lập mặt trận Việt Minh, làm được cách mạng tháng Tám, tuyên bố giải tán Đảng ngày 11- 10 – 1945, giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này thành lập Đảng Lao Động thì  Lào trả về Lào, Miên trả về Miên, không còn liên bang gì ở chỗ này. Mỗi dân tộc có quá trình hình thành riêng của nó, còn viện trợ quốc tế với nhau thì bình đẳng, chứ để nước lớn trùm lên Lào, Miên là sinh chuyện. Ngay từ lúc đó cụ Hồ đã nhìn thấy vấn đề như thế, bây giờ nhìn vào tình hình nào là sắc tộc, nào là tôn giáo. Cụ Hồ không có đặt vấn đề liên bang. Miên là Miên, Lào là Lào , ta là ta. Đến năm 1951, cụ Hồ chỉ còn là Chủ tịch ban chấp hành. Ví dụ trong việc Bác ký Hiệp Định sơ bộ 6- 3- 1946 không cần triệu tập ban chấp hành, Bác quyết định ký. Lúc đó Bác chỉ sửa đổi hai chữ . Một bên , Bác là “ Việt Nam độc lập “ , một bên Sainteny  ( là đại diện  Cộng Hòa Pháp ) là “ Việt Nam tự trị “ . Cuối cùng nửa đêm mùng 5 tháng 3 Bác đánh thứ bí thư là ông Vũ đình Huỳnh dậy, bảo là đã tìm được lối thoát, đi báo ông Hoàng minh Giám chuẩn bị để ký. Bác chọn được một chữ mà hai bên đều chấp nhận được, đó là “ nước Việt Nam tự do “ . Pháp rất sợ chữ “ độc lập “ vì cả Châu Phi họ sẽ đòi độc lập, cho nên nó chỉ muốn “ Việt Nam tự trị “ thôi. Bác bảo tự trị là không được , độc lập thì Pháp không chịu nên chọn “ nước Việt Nam tự do “ ( có chính phủ riêng, có quân đội riêng, có ngoại giao riêng, có tài chính riêng) nhưng tên nước là “ Việt Nam tư do “. Thế là Sainteny ký ngay ngày 6 tháng 3 năm 1946. Trước tình hình ấy mà chờ triệu tập Ban chấp hành để quyết định thì chết, bao giờ mới triệu tập kịp, mỗi người một nơi.

    Cho đến năm 1951 đưa “ tư tuởng Mao “ vào điều lệ, ghi là “ Học thuyết Mác – Lênin, chiến lược Stalin, tư tưởng Mao trạch Đông, tác phong Hồ chí Minh” thì Bác Hồ nói,:

   “ Thôi, các ông ấy là đủ rồi, Mác, Lênin, Stalin, Mao trạch Đông là đủ rồi, còn cái tác phong “ Hồ chí Minh” thì miễn cho.”

 Chả lẽ lúc đó Bác lại nói, “ Tôi không có tư tưởng à” . Lúc đó cũng chưa có nói đạo đức, mà chỉ nói Bác là “ tác phong cần kiệm liêm chính”, giản dị thế thôi, chứ Bác không có lý luận.

     Điều lệ ghi , “ Thiểu số phục tùng đa số “ . Bác Hồ ra họp ban chấp hành thì suốt đời bao giờ cũng là “ thiểu số “ , mà thiểu số phải phục tùng đa số. Đó là ‘” cái khoá “ . Vậy là Bác Hồ chỉ được làm những cái mà Ban chấp hành chủ trương, chứ Bác không có chủ trương nữa. Về cải cách ruộng đất thì Bác Hồ không chấp nhận cái cải cách ruộng đất kiểu này, mà Bác đã cho ra Sắc lệnh giảm tô, giảm tức 25% từ năm 1949. Tất cả các đồng chí lúc đó  lòng dạ ai cũng yêu quý Bác Hồ, nhưng lại tôn trọng ông Mao là “ nhà lý luận Trung Quốc “ , là cái mẫu của châu Á đem bê vào Đảng như thế, và phải làm “ thổ cải “ . Bác Hồ không tán thành cải cách ruộng đất, Bác chỉ “ trưng thu, trưng mua, hiến điền “ chứ không chủ trương đấu tố. Lúc đó mấy đồng chí trong bộ chính trị, đặc biệt là đồng chí Trường Chinh( tấm lòng đồng chí trong sáng, là người có nhân cách lớn, phải nói thế ) nhưng quan điểm của đồng chí Trường Chinh là “ Không phát động nhân dân thì nông dân chịu ơn địa chủ suốt đời, phải cho nông dân đấu tố  để nông dân vùng lên” , Khi ra biểu quyết thì Bác Hồ chỉ có 3 phiếu, nhưng cũng là ‘ thiểu số “ . Cụ Vũ đình Huỳnh kiên quyết bảo vệ quan điểm của Bác là hiến điền, trưng thu, trưng mua ruộng đất chia cho nông dân.

     Xin nói về một bài của một đồng chí ký tên là “ HT “ ( Hoàng Tùng ) viết về những nỗi đau của Hồ Chủ Tịch “ , hiện nay lưu hanh ở Hà nội cách đây mấy tháng. Đầu bài ông đề là “ 10 nỗi đau của Hồ Chủ Tịch “ nhưng trong bài đó ông Hoàng Tùng dấu đi 2 cái đau, chỉ viết 8 cái thôi. Ông Hoàng Tùng là trong Ban bí thư trung ương Đảng, là nhà lý luận , là trưởng ban tuyên huấn, là Tổng biên tập báo Nhân Dân lâu nhất, chủ tịch hội nhà báo. Có một thời ông cũng lầm rằng anh Ba Duẩn mới là nhà lý luận, còn Bác Hồ chỉ là yêu nước thôi. Cho đến bây giờ ông mới tỉnh ra. Trước đây ông viết cuốn “ Từ tư duy văn hoá truyền thống đến tư tưởng Hồ chí Minh”. In xong thì bị tịch thu, bị đốt hết dù không có tuyên bố giải thích gì cả. Anh Hoàng Tùng có đem đến cho tôi một cuốn. Anh nói, “ Sách của tôi bị đốt, sách của anh tái bản lần thứ 8 là may đó. Khi tôi ra cuốn này thì bị thu mất rồi, còn giữ được một cuốn đem cho ông .” Ông là người hiểu biết như thế, lý luận như thế và một thời ông cũng là ghê gớm lắm, vậy mà có lúc ông nói,:

   “ Thôi, cắt cái mũ “ phớt “ đi được rồi( tức ông Giáp đứng trước hàng quân đội cái mũ phớt).

  Có thời ông chỉ thị các báo không được đăng ảnh Đại tướng Võ nguyên Giáp, vì “ trên “ chỉ thị như thế , cho nên ông nói “ cắt cái mũ phớt đi “. Có lúc ông cũng lầm, nhưng lúc tỉnh ngộ ra, thấy được sự thật thì ông kể ra 10 nỗi đau của cụ Hồ, nhưng chỉ viết có 8 cái, còn 2 cái không thấy đưa ra. Dân ta thì không biết, nay ông kể ra thì ông cũng ngoài 80 tuổi rồi. Ông nào cũng viết để lại, không in được thì cũng để lại cho các nhà nghiên cứu lịch sử sau này làm tư liệu nghiên cứu về những sự thật được nói ra từ trong tim người ta.

     Trong bài viết của ông Vũ Kỳ mà ta đọc báo ta không để ý ông viết kín đáo để đăng báo Văn Nghệ, báo Tiền phong, Báo Nghệ An  số tết 1998. Hồi đó ông chủ trương đăng trên ba tờ báo đó. Nội dung bài báo là : Năm 1967, Bộ chính trị mới Bác Hồ đang chữa bệnh ở Trung Quốc về để thông qua cuộc tổng tiến công 1968. Khi họp lần thứ nhất Bác đã không đồng ý chủ trương tổng tiến công nổi dậy. Bác chỉ đồng ý tập kích chiến lược rồi rút ra ngay. Đại tướng Võ nguyên Giáp cũng chủ trương như vậy, nhưng vì thiểu số nên đành đi chữa bệnh ở Hungary. Nhưng sắp đến tết Mậu Thân rồi nên phải thông qua chủ trương đó để đi vào cái tết nên phải mới Bác về.

   Ông Vũ Kỳ viết bài báo như sau:

  Trên máy bay chỉ có Bác, ông Vũ Kỳ và người lái chuyên cơ của Bác từ Trung Quốc về . Lúc đó đã báo cho bộ đội phòng không từ giờ này… đến giờ này .. trên bầu trời ta từ hướng này..phương vị này … tuyệt đối là không nổ súng. Thời đó là đang chiến tranh, vào giờ đó xuất hiện máy bay của ta. Khi máy bay về tới vùng trời Hà nội, sân bay Nội Bài khi đó là sân bay quân sự nên máy bay xuống sân bay Gia Lâm. Người lái báo cáo với anh Vũ Kỳ ngồi bên cạnh, Bác ngồi sau hút thuốc.

–           Thưa anh, tín hiệu đường băng lệch 15 độ, bây giờ làm sao đây ạ?

–           Quan sát lại đi –Ông Vũ Kỳ nói

–           Em là người lái mà, lái máy bay cho Bác thì em nhìn sai sao được- Người lái nói.

Máy bay lượn hai vòng không dám xuống, xăng hết rồi, giờ quy định cũng đã hết rồi, phòng không họ bắn chết, mà xuống theo tín hiệu thì không an toàn..

 Cuối cùng xuống theo trí nhớ của người lái, chứ không xuống theo tín hiệu của đèn hiệu, vì trên máy bay báo đi báo lại nhưng dưới sân bay vẫn không thay đổi, đèn “ tín hiệu chệch “ dưới vẫn cứ để thế, không sửa. Vòng một vòng và máy bay chạm đất an toàn, thở đánh phào một cái. Bác vẫn ngồi tĩnh tại hút thuốc, ở dưới sân bay vẫn yên tĩnh.

–           An toàn rồi , anh ơi , mừng quá- Nói to lắm nhưng Bác làm như không nghe thấy.

 Ra khỏi máy bay ( ông Vũ Kỳ tả) thì thấy đồng chí Lê Duẩn, Lê đức Thọ ra đón, một lúc sau có Thủ tướng Phạm văn Đồng. Chỉ có thế thôi, không còn ai đón Bác cả.

   Về tới nhà thì tết rồi, việc đầu tiên Bác gọi điện thoại sang Bộ quốc phòng hỏi:

–           Tục lệ người Việt Nam ta ngày tết hay nhớ nhà, thế thì các đồng chí ở nhà đã gửi quà chúc tết cho đồng chí Võ nguyên Giáp đang chữa bệnh ở Hungary chưa ?

 Anh em mình thường trao đổi tin này xem đã đưa ra được chưa ? Tôi cho rằng đưa được, đến năm 98 rồi, nên đưa ra tin này vì sắp hết thế kỷ 20 rồi, ai hiểu thế nào thì hiểu, còn chuyện đưa ra thì đừng bình gì cả. Đừng đưa đăng một tờ báo mà phải đưa tin trên ba tờ báo, vì một tờ sẽ bị “ đánh chết “ ngay. Đúng thế ! Khi cả ba tờ báo đăng bài đó, thì các ông trong Bộ chính trị mời ông Vũ Kỳ lên hỏi.

    Anh Kỳ nói, “ Tôi chỉ kể chuyện đi của Bác trong hồi ký của tôi viết về Bác.

 Thế rồi “ họ “ cũng thôi. Cái khung cảnh đất nước ta mấy năm nay là thế đấy.

   Bác Hồ là người cô đơn, đây là cô đơn trên quan điểm. Tôi hiện nay đang viết cuốn “ Bác Hồ là người cô đơn nhưng không cô độc” Năm 2001 tôi viết cuốn này, chủ yếu là nói quan điểm của Bác bị “ cô đơn “ từ Quốc tế cho đến khi Bác qua đời, quan điểm của Bác luôn ở phe thiểu số. Diễn ra trong tình hình hiện nay là vấn đề dân tộc , vấn đề tôn giáo. Quan điểm của Hồ chí Minh từ đầu chí cuối là vấn đề dân tộc, chứ không phải là đấu tranh giai cấp , chuyên chính vô sản. Cái “ thiểu số “ ấy đi suốt cuộc đời Bác . Đến được ngày hôm nay quan điểm đó của Bác càng ngày càng rõ ra là rất mừng. Điều đó nói rằng mọi khoa học nó ra đời không bao giờ dễ dàng dù là khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội..( Đoạn này nghe không rõ). Nói ra như thế để thấy Bác Hồ ngày càng sáng ra, sáng cả con người cùng quá trình Bác cô đơn. Nhưng lúc nào “ người ta “ thấy “ lợi “ thì “ người ta “ nói là của Bác Hồ chứ “ người ta “ không làm theo Bác Hồ.

     Khi Tổng thống Putin đến thăm khu di tích nhà ở của Bác Hồ, mấy ông phụ trách đưa lên một chồng sách Mác- Lênin đặt trên giường của Bác, nói trước khi qua đời Bác đọc những sách này. Người ta tưởng làm như thế là trọng Bác Hồ và để ông bạn Nga này quý Bác Hồ. Không phải đâu, dòng di sản Bác Hồ chất Mác- Lênin có mức độ thôi. Người thường nói những câu của dân gian, của dân tộc, cho nên có người bảo Bác Hồ không có lý luận. Bác toàn nói ca dao, tục ngữ, trích Kiều, trích Chinh phụ ngâm, trích những câu của Mạnh tử, Khổng tử, Lão tử mà còn giá trị với thời đại. Trích câu của Phật, của Giêsu  chứ không nói Mác. Khi ông Putin đến thăm nơi Bác ở sinh thời thì người ta đem một chồng sách để đầu giường Bác như thế , nhưng ông Putin ghi sổ lưu niệm lại không nói gì về chuyện này mà nói:

   _ Hồ chí Minh là người thầy của dân tộc Việt Nam ( mà không nói là chủ tịch nước). Người đã để lại trong trí nhớ nhân loại nên rất vinh dự cho tôi hôm nay được làm quen với cuộc sống của người.

  Tại sao ông Putin lại nói “ làm quen “ với cuộc sống của người ? Vì trên vị trí tổng thống này nhìn tấm gương của Hồ chí Minh lên đỉnh cao như vậy mà sống không xa cách dân, sống giản dị. Mà chính ông nói là khôi phục lại một nước Nga, một nước Nga yêu nước, truyền thống văn hoá. Ta nên nhớ rằng Liên xô ngày xưa những người ấy không phải không có tấm lòng, nhưng đem xoá sạch đi thì đó là người không có đầu óc. Đáng lẽ ra làm cách khác, ta đưa cách khác, sách đích thực Bác đọc trước khi lâm chung, đây lại làm một chồng sách “ toàn Lênin” . Cụ nằm trên giường bệnh ốm thì làm sao đọc được các sách đó. Nếu để một cuốn Kiều thì không ai cãi được, hoặc để một tập thơ của Puskin, sách của L. Tônxtoi, của Victor Hugo, Séch- pia, vì Bác thuộc thơ Puskin, và thuộc thơ tiếng Nga. Bác có lúc nói bây giờ còn thuộc Victor Hugo, tôi là học trò nhỏ của Lep Tôn.. Bác Hồ của chúng ta ngày nay bị nhiễu nhiều thứ như thế , muốn nhận ra Bác thì phải nghiên cứu lại các sự thực của lịch sử. Trước đây tôi đã nói cái nôi sinh thành của Bác, hôm nay tôi nói một số giai đoạn, một số sự kiện có ảnh hưởng lớn đến Bác mà không nói có hệ thống vì thời gian cũng không có nhiều.

    Ta đọc sách, đọc lịch sử, ta biết Bác Hồ sinh ở làng Chùa, quê ở làng Sen, sau vào Huế học. Tôi nghiên cưú tôi thấy thế này: nếu Bác Hồ không đi vào Huế từ thuở thiếu thời thì con người ấy cũng bị hạn chế , hạn chế về mặt văn hoá cội nguồn và thanh lịch ở đất kinh đô.

     Huế là trung tâm văn hoá của cả nước ta vào thế kỷ 19, Bác Hồ vào Huế cuối thế kỷ 19, lúc đó Huế là trung tâm của cả nước. Ở Nam bộ cụ Phan thanh Giản đi thi phải ra Huế, còn khúc ruột miền Trung từ Bình Thuận trở ra đến Quảng Nam, thi Hương là phải ra Huế. Đầu thế kỷ 20 mới có trường thi Hương ở Bình Định. Ở Bắc thì Lạng Sơn trở vào cũng phải vào Huế để thi Hội. Diện mạo các nhà trí thức, các nhân sĩ ( xin nói thực có một thời kỳ cực đoan, đã nói “ quan “ là phong kiến, quan là xấu. Ở Chí linh tôi nói thế mà suýt bị bắt).

      Nói các quan “ xấu “ như thế sao lại truyền thống nối dõi văn hoá Việt Nam mấy nghìn năm được! ? Cố nông thì làm sao giữ được văn hoá vật chất của dân tộc? Chúng ta vô cùng quý trọng cố nông, người thợ nhưng nói đến diện mạo văn hoá là phải nói đến trí thức. Các gia đình khoa bảng, gia đình nhà quan truyền từ đời này qua đời khác . Các ông quan tham nhũng thì cá biệt thôi. Tất cả tham nhũng thì còn gì là văn hoá Việt Nam, bản lĩnh, bản sắc Việt Nam. Không có Nguyễn Trãi thì ta làm gì có văn hoá thế kỷ 17, thế kỷ 18 sang thế kỷ 19 cũng vậy. Ở nhà cái ông giàu nhất nước , mà xưa nay chưa có nhà nào mà cha con đồng triều là tể tướng như nhà Nguyễn Du ( thân sinh Nguyễn Du là Xuân quận công Nguyễn Nghiễm , làm tể tướng thời Lê mạt. Anh Nguyễn Du là Toản quận công Nguyễn Khản, làm tới Tham tụng, Thái bảo trong triều ). . Bác Hồ của chúng ta chính là con người nối tiếp những cái văn hoá cội nguồn này chứ.

     Thế kỷ 19, Bác Hồ sinh ra năm 1891, tôi nói đây là nói nghiên cưú từ gốc. Bây giờ nói Bác sinh 1890, nhưng tôi nghiên cứu tử vi của Bác thì Bác sinh năm 1891. Bác đi làm cách mạng, Bác khai năm sinh là 1890, nhiều người chúng ta khi đi học, đi hoạt động cũng khai bớt hoặc thêm tuổi như thế. Bác sinh năm 1891, năm 1895 Bác vào Huế, tuổi ta là 5 tuổi, tuổi bắt đầu có trí nhớ, tuổi mà người ta dễ nhớ nhất là tuổi này, tuổi lên 5 đến lên mười. Bác 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế. ông Nguyễn sinh Khiêm có đưa cho tôi cuốn “ Tất Đạt tự ngôn “ là vào tháng 6 năm 1950. Sau đó ít tháng thì cụ qua đời. Trong “ Tất Đạt tự ngôn “ thì cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ.

    Bài thơ này cũng hấp dẫn tôi. Thời đó tôi là một anh thanh niên học sinh mới đi hoạt động Đoàn thanh niên cứu quốc ( chưa phải là Đoàn thanh niên Hồ chí Minh ). Cụ đưa cho tôi đọc bài thơ hay quá đi, thấy tôi ngỡ ngàng không tin thì cụ nói thế này:

 _ Cháu ạ, bây giờ nhớ gì ghi nấy. Bọn Tây nó “ thuốc” bác bằng rượu khi bác đi tù. Bác vào nhà tù năm 1914, sau bác chống lại thì nó đày vào cực Nam Trung Bộ. Bác vốn không phải là người nghiện rượu, nhưng sau này thì không có rượu là bác không chịu được và trí nhớ của bác mất dần đi. Bạn học của bác đi thi vào năm 1904 đỗ cử nhân, đó là ông Đào như Tuyên, con trai cụ Đào Tấn. Anh em bác học vào loại giỏi nhưng không đi thi. Bây giờ bác không còn được như xưa, nhớ cái gì thì bác ghi vào đây, chứ không có hệ thống. Cháu là người có tấm lòng muốn tìm hiểu gia cảnh nhà bác thì bác đưa cho cháu cuốn ghi chép này, thấy có ích thì cháu dùng, khai thác, không dùng nữa thì đốt, đừng giao…cho ai, vì trong này bác ghi nhiều cái không tiện nói ra. Trong đó bác có ghi họ Hồ là thế nào..về họ Nguyễn là thế nào..vì ngày chú Thành mở nước độc lập thì là Hồ chí Minh, chứ không lấy họ Nguyễn là vì sao ? Trong cuốn này cũng nêu ra bài thơ đó là: Trên đèo Ngang hai bài thơ 1895, còn bài nữa là “ Ba ông phỗng “ năm 1903.

     Cụ Khiêm kể lại, “ Hôm đó cả nhà bác chuẩn bị đi vào Huế, bác ngủ với bà ngoại, em Thành ngủ với mẹ, còn chị Thanh thì ngủ với dì An. Đêm đêm bác thấy bà khóc, ngày bà vui, đêm nào cũng nghe thấy bà khóc. Sáng hôm sau thấy bà đi xin mo cau cả làng ( xưa dân ta lấy mo cau  làm gàu múc nước). Bác với chú Thành lấy mo cau cắt thành cái thuyền đem thả ao trước nhà, bà không cho, bà bảo đây là dép của các cháu, cha mẹ cháu để đi vào kinh đô, thời đó chưa có nhiều giày dép như bây giờ. Bác thấy bà ngoại đo chân cha mẹ, đo chân cho 2 anh em bác.

  ( Bây giờ mới thấy các cụ ta ngày ta ngày xưa đi tìm cái chữ ở kinh đô Huế, đi trên những phương tiện như vậy, không dép săm bô như ta bây giờ, ngày ấy có đôi dép da bò đã quý rồi )

   Bác hỏi : “ Mẹ, tại sao đêm bà khóc ?”

 Về sau mới biết tâm sự bà thế này, lúc đầu cha mẹ bác tưởng bà khóc vì bán ruộng cho con vào kinh đô học, bán mất 5 sào. Bà ngoại đêm nằm buồn mà khóc, không phải tiếc vì bán 5 sào ruộng cho con rễ vào kinh đô học , vì chữ nó sẽ đẻ ra ruộng, chứ ruộng không đẻ ra chữ . Còn cái ruộng bán đi đánh bạc thì mới mất, nên không có gì mà khóc cả . Khóc là vì bà không có con trai. Ông tú thì mất rồi, con rễ coi như con trai, con gái là chỗ dựa, bây giờ cả nhà kéo đi vào Huế, bà ở nhà cô đơn một mình, hai cháu trai và cháu gái cũng đi. Vì thế nên cha mẹ bác chỉ cho hai anh em đi vào Huế, còn chị Thanh phải ở lại quê với bà, để sớm hôm có bà có cháu.

     Như vậy cha mẹ bác quyết định vào Huế không phải là để làm ăn sinh sống để trở thành người Huế đâu, mà muốn cho anh em bác vào Huế để học. Cha bác vào đó để làm bạn với các nhà khoa bảng ở kinh đô. Các ông qua thời đó đều là tiến sĩ, là hoàng giáp , là đình nguyên, ít ra là cử nhân. Đúng là cha bác vào trong Huế đã tạo ra được một cái “ chiếu văn “, các ông quan trong triều thường đến đó bình văn, bình thơ cùng với các cụ đồ ở kinh đô.

  Ông Khiêm kể tiếp, “ Khi đi dép mo cau, một lúc là rách phải thay cái khác, còn chú Thành thì được cha cõng trên lưng. Trên cao chú quan sát hỏi hết chuyện này đến chuyện khác: núi này là núi gì mà cao thế? Bà ngoại hay ví “ trèo truông mới biết truông cao “ là nghĩa nó ra làm sao? Có đuợc bao nhiêu nước để gọi là biển? Chú ấy hỏi nhiều chuyện. Còn bác thì chân nó đau, đi mấy ngày liền, có khi bác khóc. Mẹ bác lại động viên, “ Em nó vui vẻ hỏi chuyện này chuyện khác. Con là anh mà chẳng vui chi cả “ Chú Thành đuợc cha cõng, đến đường bằng thì chạy tung tăng, hỏi nhiều thứ, còn lạ mắt cho nên mẹ bác nói em thông minh hơn anh.

Rồi cụ Khiêm nói, “ Mà chú ấy thông minh hơn bác thật “

  Lúc đến chân đèo Ngang, đường lúc đó có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Đến chân đèo Ngang, có bãi cỏ rất bằng, mẹ bác mới đặt gánh xuống, cha bác xếp ô lại bảo : chỗ này phẳng phiu, nghĩ lại đây ăn cơm nắm, để rồi leo đèo. Bác ngồi xuống ôm chân rộp . Còn chú Thành thì nhảy chơi, mới hỏi cha :

 _ Thưa cha, cái gì ở trên kia mà đỏ, lại ngoằn ngoèo như rưá?

 Cha bác nói , “ Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên đó, lên cái đường mòn đó.

 Thế rồi chú Thành mới ứng khẩu luôn một bài thơ. Sau này bác ghi lại trong cuốn sách “ Tất Đạt tự ngôn “ này.

       “ Núi cõng con đường mòn

          Cha thì cõng theo con

          Núi nằm ì một chỗ

          Cha đi cúi lom khom

          Đường bám lì lưng núi

          Con tập chạy lon ton

          Cha siêng hơn hòn núi

          Con đường lười hơn con “

   Nói về văn thơ, tôi là anh thanh niên nam 1950 tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “ Tất Đạt tự ngôn “ của người anh ruột Bác Hồ  viết lúc 5 tuổi thì tôi hơi sững sờ.

 Ông Khiêm nói tiếp, “ Lúc đó cha bác mới mở cái ví vải lấy lá số tử vi của con ra xem, bác mới biết cha đã lấy tử vi cho các con. Cha bác nói với mẹ, “ Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn với ông ngoại đã nói như thế không nhầm.”

Rồi bác Khiêm lại nói, , “ Lúc đó bác chẳng có bụng dạ gì, vì chân phỏng rộp đau. Ăn cơm nắm uống nước đựng trong quả bầu khô xong, cả nhà lại leo núi, chú Thành lại được cha cõng trên lưng. Anh em bác ở làng Sen chỉ biết ao, biết sông, biết hồ, biết núi, chứ biển chưa thấy. Hôm đó, đến đỉnh đèo thì dừng lại nghỉ, bác lại ngồi ôm chân. Chú Thành lại chạy nhảy rồi nói:

  _ Cha ơi, cái ao ở đây sao lớn thế?

 Cha bác nói:

 _ Không phải ao đâu con, đó là biển đấy chứ

Lúc đó, đứng trên đèo Ngang là nhìn thấy biển, ở đây thì xuống là đến Ròn , tức Cảnh Dương của Quảng Bình. Lần đầu tiên thấy biển lại cứ gọi là ao, cha bác phải nói là biển. Chú ấy lại nói:

 _ Cha ơi, tại sao bò nó lại lội trên biển?

 Cha bác cười bảo:

–           Không phải bò đâu con ơi, đó là cánh buồm, thuyền nó chạy trên biển đó.

 Chú ấy ứng khẩu đọc bài thơ:

    “ Biển là ao lớn

       Thuyển là con bò

       Bò ăn gió no

       Lội trên mặt nước

       Em nhìn thấy trước

       Anh trông thấy sau

       Ta lớn mau mau

       Vượt qua ao lớn”

   Cụ Khiêm nói một câu tâm sự, mà cũng là tâm trạng, ‘ Cháu ạ, con ngươì ta có số mệnh. Số mệnh có khi nó xuất ra thành ý. Cái thông thường , cái lẽ thường anh là phải nhìn thấy trước  vì anh ra đời, khôn hơn. Nhưng đây lại nói là, “ Em nhìn thấy trước anh, anh trông thấy sau”. Cái khẩu khí đó cũng là cái ứng mệnh. Bác là anh, bác đau chân, bác không còn nhìn những gì ở xung quanh, nhưng chú ấy quan sát, chú ấy lại ứng khẩu được cái đó, “ Ta lớn mau mau, vượt qua ao lớn “ . Cái khẩu khí ấy là cái “ ứng mệnh “ nên suốt cuộc đời chú Thành phải đi hết nơi này nơi khác, năm châu bốn biển, còn bác chả thấy gì, bác cứ yên vị, bác sống trong xó quê như thế này! ..

  Cụ Khiêm nói với tôi điều đó năm 1950, sau này tôi công bố hai bài thơ ấy trên báo Văn Nghệ số tết năm 1980, lúc đó là chuẩn bị đại hội 5. Sách “ Búp sen xanh “ chưa ra, tôi nói đưa hai bài này  và viết lại cái đoạn gặp cụ Nguyễn sinh Khiêm. Khi đó nhà văn Nguyễn văn Bổng là Tổng biên tập báo Văn Nghệ trước khi đăng mới đến hỏi tôi:

  _  Có chính xác không anh? Mới 5 tuổi mà làm 2 bài thơ, trẻ con thì trẻ con thật nhưng rất trí tuệ

 Tôi nói, : “ Anh cứ đăng đi, có chi tôi chịu trách nhiệm.

  Đến khi báo ra thì người đến gặp tôi là bác Khương hữu Dụng, nhà thơ giỏi và  nổi tiếng về thơ Đường. Bác năm nay 95 tuổi, đang sống.( Tôi cho rằng ở Quảng Nam ta có bác Khương hữu Dụng, một nhân cách nhà thơ, nhà báo, bác dạy học suốt thời tuổi trẻ, sau cách mạng tháng 8, bác mới thôi dạy học. Xưa bác viết báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh thúc Kháng). Cụ hỏi tôi:

  _ Tôi mới được đọc hai bài thơ của Bác Hồ thời thơ ấu hay quá mà mình cũng nghi quá, ông có thêm chữ nào vào không đây ?

   _ Chết , ai lại làm việc này, thưa bác – Tôi nói

( Ta phạm sai lầm là khi viết cái điển hình chăn nuôi để phong anh hùng, chiến sĩ thi đua thì thường mượn lợn hàng xóm thả vào chuồng, mời nhà báo đến, toàn “ tạo “ thêm thành tích ba lăng nhăng. Còn đây là viết về vĩ nhân, đây là viết về Bác Hồ, mình thêm là mình có tội. Còn nếu của tôi thì tôi thành tác giả, việc gì là nói của cụ Hồ)

 Cụ Dụng lại cười tươi nói, “ Đọc xong mình sợ quá . Trần đăng Khoa nó giỏi nhưng thời nay nó khác, nó có thông tin báo chí tuyên truyền nhanh, có hệ thống, thời đó thì không có mấy, thời đó làm gì có báo chí như vậy. Thông minh như Trần đăng Khoa tưởng tượng “ cành lá dưà như lược cài trên trời”, “ quả na chín là quả na mở mắt “ , “ gà gọi mặt trời lên “..Bên này hai bài thơ Bác hồi nhỏ mà tầm tư tưởng lớn quá .”

   Sau này đưa vào cuốn, “ Búp sen xanh “ thì Thủ tướng Phạm văn Đồng có mời tôi lên làm việc. Thủ tướng có hỏi về hai bài thơ. Thủ tướng mời tôi ngày 10- 4- 1982. Lúc đó đã kết thúc Đại hội 5. Bác Phạm văn Đồng nói như thế này:

   “ Tôi có mấy điều để nói với đồng chí, có những điều Bác Hồ kể với tôi, vì tôi sống có một mình. Thỉnh thoảng ăn cơm với Bác, sau khi ăn xong hai người thường ngồi bên ao cá kể chuyện thời nhỏ của Bác. Nhưng lần này tôi thấy đồng chí lại biết khai thác được những chuyện như thế này.  Tôi không hiểu tại sao đồng chí lại biết những chuyện như thế này? Đồng chí cũng không phải là thư ký của Bác. Đồng chí là nhà báo , thỉnh thoảng có đi với Bác nhưng chắc không bao giờ Bác kể chuyện này, trong đó có trường hợp cô Út Huệ là người tiễn Bác xuống tàu. Trong sách có ba bài thơ, bài thơ thứ ba không nói, còn bài thơ Đèo Ngang tại sao đồng chí lại tìm được?

   Bác Đồng mời tôi lên thì bao giờ cũng có cái  “ thú thân”. Được khen thì tốt nhưng khi bị hỏi thì sẵn sàng có cái “ thú thân” mà chìa ra. Tôi mang cả cuốn “ Tất Đạt tự ngôn “ đi theo.

  Tôi nói, “ Cụ Khiêm giao cho tôi tháng 6- 1950 thì tháng 9 cụ qua đời. Cụ có ghi trong sách hai bài thơ này. Tôi chìa ra thì Bác Đồng bảo tôi, “ Đồng chí đã lấy tư liệu chu đáo như thế này, vì không ai hiểu Bác Hồ bằng anh chị em ruột của Bác. Đồng chí lạo có cái duyên may được gặp các anh chị Bác Hồ, lại đuợc các cụ tin cậy giao cho cuốn sách ghi chép của cụ cuối đời và kể lại thế này. Các cụ nhà nho khi về già thì kỹ tính lắm, không dễ nói ra đâu.

    Sau tôi phải nói thật với bác Đồng: ông Bùi xuân Phong xưa là bạn của cụ Hoàng xuân Hành ( chú ruột mẹ Bác Hồ), cùng đi với cụ Hành, không phải tự nhiên các cụ kể cho biết đâu. Cụ Bùi xuân Phong hy sinh ở Nhã Nam thời cụ Hoàng hoa Thám, nay vẫn chưa tìm thấy mộ cụ Tú Bùi. Nói điều đó để bác Đồng tin được

  Bác Đồng lại nói :

  “ Tôi hỏi đồng chí như thế vì đọc trong cuốn sách có nhiều điều xúc động, nhưng có hai bài thơ ở Đèo Ngang làm tôi cứ bâng khuâng. Giá mà biết trước cái này  thì Bác còn sống mà nhắc lại chắc lý thú lắm. Nhưng Bác “ đi mất rồi “ ! Có khi nào mà cái tuổi lên 5 lại cấu trúc được bài thơ ngắn, cấu trúc ấy lại tạo ra được cái “ tĩnh” với cái “ động “ , tư duy này là tư duy “ dịch lý”.

   Bác Đồng là người giỏi dịch lý, con quan mà. Các đồng chí để ý ngày bác Đồng mất, họ chiếu cái phim về Thủ tướng Phạm văn Đồng, có đoạn quay cái nhà thờ của gia đình bác Đồng ở Quảng Ngãi, thì người ta quay xa xa, không quay cận cảnh bàn thờ vì toàn là những ông đội mũ cánh chuồn. Gia đình bác Đồng nhiều người làm quan, như thế “ họ “ sợ mất lập trường nên không dám quay rõ. Bác Đồng là con quan, học giỏi, học hành kỹ lưỡng nên mới thấu hiểu được cái “ động “, cái “ tĩnh “ trong bài thơ của Bác Hồ.

    Rõ ràng cái gì thuộc về thiên nhiên tạo đều “ tĩnh “, cái gì thuộc về con người là “ động “ “ Núi cõng con đường mòn” , “ Cha thì cõng theo con”, “ Đường bám lì lưng núi “ là tĩnh, “ Con tập chạy lon ton “ là động. Thơ có thể là chưa hay nhưng nó có cái thần, cái lời ngộ nghĩnh của đứa trẻ, điều đó dễ hiểu, đó là vấn đề tư tưởng, tầm nhìn này hơi lạ. Rồi còn bài lên đỉnh đèo, tại sao biển như thế vẫn gọi là cái ao, mặc dù cha nói đó là biển mà vẫn cứ , “ Ta lớn mau mau. Vượt qua ao lớn “ . Thế thì có lý trí gì không? Không chỉ là xúc cảm xuất thần của một đứa bé. Sau này Bác đi năm châu bốn biển: lịch sử nay đã cho thấy Bác Hồ đi bốn biển thì thấy, năm châu thì chưa thấy. Đến bây giờ không biết Bác có thăm Úc không? Ta thường nói Bác Hồ đi năm châu bốn biển, theo lịch sử ghi thì Bác mới chỉ đến bốn châu thôi.

  Tôi nói : “ Bác Hồ đến Sitnây ( Sidney) tháng 11- 1913, đi với cụ Đào nhật Vinh, hiện nay cụ Vinh ở số nhà số 13 đường Nguyễn an Ninh , gần chợ Bến Thành.

    Khi tôi nói với bác Đồng, năm đó cụ Đào nhật Vinh đang sống. Sau giải phóng miền Nam, tôi vào Sài gòn sưu tầm tài liệu về Bác Hồ thì Dược sư Hồ thị Tường Vân, con gái cụ Hồ tá Bang, giới thiệu gặp cụ Đào nhật Vinh, người ở huyện Trực Ninh, Nam Định, xuống tàu năm 1912 ( Bác Hồ năm 1911), cụ Đào nhật Vinh gặp Bác Hồ ở tận Nam Mỹ, Achentina, sau này gặp Bác ở Đaka, Sêõnêgan, đến đầu năm 1917 gặp lại Nguyễn tất Thành cuối Đại chiến thứ nhất. Vì sau đó ông không đi tàu nữa mà lên Bocđô lấy vợ đầm. Sau này ông lại lấy một bà Việt Nam. Nếu cụ Vinh kể không thì không ổn, phải kể thêm số ảnh cụ chụp chung với Bác Hồ năm 1946 ở Paris khi Bác là thượng khách thăm chính thức nước Pháp . Lúc đó cụ đang ở Pháp ở Hotel ở Bócđô.

  Gặp cụ Vinh tôi mới cung cấp một số tư liệu với bác Đồng. Bởi vì viết về Bác Hồ, chúng ta chẳng có mấy ai nghiên cứu về Bác, đi đến tận nơi tận chốn Bác sống, hoạt động để tìm tòi tra cứu cả. Báo chí nước ngoài họ viết thế nào thì ta chép lại, Đảng ta chưa bao giờ bỏ ra một số tiền cung cấp cho những người có tâm huyết thật sự đi lần theo dấu vết Bác. Đã có ông nhà báo Mạnh Việt ở báo Tiền Phong thành tâm xung phong đi, nhà nước chỉ cấp cho một cái giấy phép thôi, còn đi đến đâu ông nhờ đồng bào, mà đến nay vẫn chưa có chuyến đi nào cả. Ngay cả việc quan hệ giữa nhà nước ta và nhà nước khác cũng chỉ trao đổi công văn đi lại, cũng chưa có người đến. Chỉ đến khi anh Hồng Hà lúc đó là phóng viên báo Nhân Dân đi sang Hội nghị Paris với Lê đức Thọ, nhân tiện ở đó nghiên cưú về Bác ở Pháp, rồi sang Anh, thế thôi, chứ thực sự để hẳn người nghiên cứu về Bác Hồ thì không có. Vì vậy nó cứ thất thoát đi. Bên ngoài người ta cứ tiếp tục gửi về rất nhiều tư liệu.

    Hai bài thơ ấy giúp bác Đồng hiểu thêm về Bác Hồ, về sự manh nha của một thiên tài. Thiên tài không phải tự nhiên xuất hiện, mà cả một quá trình, mà đây là giai đoạn manh nha. Cuối buổi gặp bác Đồng mới nói về ý định của bác.

–           Tôi nghe dồng chí bị thương ở mặt trận về, khó khăn lắm. Anh em xuống nhà thăm nói đồng chí ở chật chội lắm. Tôi có trao đổi với anh em để lo cho đồng chí một chỗ ở, để đồng chí đỡ vất vả.

–           Thưa Thủ tướng, cám ơn Thủ tướng. Bây giờ Thủ tướng cho tôi căn hộ. Thủ tướng mang tiếng, tôi cũng mang tiếng. Bởi lẽ tôi trẻ trung làm được công việc đột xuất mà Thủ tướng thưởng thì không ai nói. Thủ tướng là người lãnh trọng trách lo cho cả đất nước. Một người đột xuất như Đặng thái Sơn chẳng hạn, làm cái việc trình diễn dương cầm được giải thưởng Sôpanh( Chopin). Người Châu Á đầu tiên được giải thì Thủ tướng cho một căn hộ , để Đặng thái Sơn đón bố là Đặng đình Hưng về ở. Anh Hưng bị cái án “ Nhân Văn giai phẩm “, bây giờ khổ quá, nay con ông làm được cái việc vinh quanh đó. Thủ tướng cho một căn nhà . Ai cũng quý cả , quý tấm lòng của Thủ tướng, quý lòng hiếu thảo của người con đối với cha, như thế là đẹp.

–              Tôi là người tham gia cách mạng sớm, ra đi vào chiến trường B, trả lại căn hộ tiện nghi ở số nhà 58 Nam Đồng cho phòng quản lý nhà đất quận Đống Đa. Nay trở về đòi không được. Thuê một chỗ khác cũng không được. Tôi biết cái nhà đó.. thì to tiền lắm. Bây giờ họ bán đồ điện. Nhà tôi đòi không được, giờ tôi lại lên đây, tôi không xin ( nhà ) mà Thủ tướng cho một xuất ở thì tôi mang tiếng. Thủ tướng cũng mang tiếng. Thủ tướng Phạm văn Đồng thì mang tiếng “ ban phát “ cho cá nhân người này, người kia, còn tôi thì mang tiếng: tưởng ông này thế nào, hoá ra đi nghiên cứu cụ Hồ, viết sách cụ Hồ xong rồi “ để xin nhà “ . Dân ta thường nói, “ Ăn mày nhà quan không sang hơn ăn mày ở chợ”. Tôi cũng nói thực lòng với bác Đồng như thế nên bác rất quý. ( Nay thấy anh Trần tam Giáp , thư ký bác Đồng viết bài để đăng báo Nhân Dân vào ngày giỗ năm cụ “ ra đi “ , anh có nhắc đến chi tiết này).

–           Như thế là đến như bác Phạm văn Đồng ở gần Bác , một trong những người gần gũi nhất của Bác Hồ như bác Võ nguyên Giáp, bác Trường Chinh.. Xưa người ta nói “ tứ trụ “ là vậy. Nhưng thời niên thiếu của Bác thì không có điều kiện để tìm hiểu mà biết được. Còn tôi có duyên may trong quá trình đi khai thác để sau này viết, trước chỉ nghĩ ghi lại để cung cấp cho đời sau, nhưng sau khi đã có cái ‘ vốn “ mới nghĩ đến chuyện “ đi buôn xa buôn gần “, viết cái này cái khác.

–               Khi cụ Hồ về tới Pác-Bó thì nói với đồng chí Nguyễn lương Bằng là tìm cho báo Thanh Nghị. Thế mà sau đại hội 3 có người nói, “ có triết học Mác- Lênin “ không cần bộ tư pháp, bỏ bộ tư pháp. Nói rồi khôi phục lại bộ tư pháp đó chứ. Cái gì cụ Hồ đề ra thì bị xoá gần hết. Nhà trí thức lớn không bao giờ kêu ca gì. Còn có người nói ông Nguyễn khắc Viện là tay sai của Pháp về, ai như ông Viện ? Hôm xét giải thưởng cho ông Trần đức Thảo, cả hội Khoa Học không ai đọc được cái gì của ông Thảo vì ông viết bằng tiếng Pháp. Bấy giờ giaó sư Phan Ngọc đọc bài giải trình về thầy Đào duy Anh, Giáo sư Trần đức Thảo. Khi đọc xong, cả hội trường đứng dậy , nhiều lãnh đạo bực mình. Bài diễn văn có đoạn “ Việc nhà nước trao giải thưởng Hồ chí Minh cho Giaó sư Trần đức Thảo , nó cũng làm sang cho giải thưởng ấy, nếu còn người đứng lên nhận thì cái giải thưởng ấy thêm giá trị, nhưng tôi thấy một nỗi rằng: Có giải thưởng, vậy ai là người nhận đây? Không có ai cả, vì ông đã nằm dưới mồ rồi. Nó gần giống như thế kỷ 15, khi Đức Lê thánh Tông khôi phục cho Nguyễn Trãi, làm cái lễ trở về Nhị Khê gần Quán Gánh để minh oan cho Nguyễn Trãi trước dân làng. Khi ông Thượng thư bộ Lễ đọc xong chiếu giải oan thì nói thêm một câu rằng, “ Minh oan được cho họ Nguyễn, nỗi oan khốc này đối với quan Hành Khiển đã một thời “ Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần “ , bây giờ quay mặt lại thì không còn ai nhận cái chiếu vua giải oan này nữa vì tru di tam tộc mất rồi”. Mong sao lịch sử đừng bao giờ lập lại! Nỗi đau lịch sử nó ghê gớm thế. Suýt nữa thì ta phạm sai lầm với ông Tổng tư lệnh của một quân đội dẹp xong mấy đế quốc siêu cường. Trước đó đã chuẩn bị một cái đảo để đi đầy ! Việc đó suýt diễn ra trong thập niên 60. May sao lúc đó cụ Hồ còn sống, cụ nói, “ Tôi còn sống, không ai thay được Tổng tư lệnh Võ nguyên Giáp !” Họ gán cho ông Giáp là “ trùm xét lại “ . Việc động trời này nhiều người đã biết.

–               Đọc 10 nỗi đau của Bác Hồ, trong đó đồng chí Hoàng Tùng viết về cải cách ruộng đất đã bắn bà Nguyễn thị Năm như thế nào và quan điểm cụ Hồ về chuyện này, vì cụ Hồ không chủ trương cải cách ruộng đất bằng lối đó. Mỗi nước có cái đặc thù thì đánh như thế nào, chứ không thể đánh như Tàu được . Vì khi cách mạng mới thành công cả trung đoàn ăn cơm trong nhà bà Nguyễn thị Năm. Con trai bà là chỉ huy trung đoàn. Thế mà cán bộ ta đi Trung quốc mang “ tư tưởng Mao “ về , chủ trương bắn ngay bà Nguyễn thị Năm. Bác Hồ nói : cách mạng này nó bạc bẽo quá, gia đình bà đã bỏ thóc gạo nuôi hàng trung đoàn từ thời cách mạng còn hàn vi. Nay cách mạng đã lớn mạnh mà bắn người ta thì bạc bẽo quá. Bát cơm Xiếu mẫu ở đâu? Sau đó còn nghe cố vấn nước bạn lập ra một danh sách 200 cán bộ cấp cao trong quân đội, phần lớn trí thức tiểu tư sản, trong đó có hàng tướng lãnh để chỉnh đốn tổ chức.

–               Bác Hồ bảo phải đốt ngay. Đem xử trí chừng này cán bộ thì còn đâu để lên Điện Biên bây giờ. Lúc đó Cải cách ruộng đất như thế, đưa ra xử chừng ấy cán bộ trong quân đội thì trời đất nào ? Nói như thế để ta thấy nỗi đau của Bác Hồ. Ta phải thấy trong cái bể sản xuất nhỏ, trong một nước chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thì nó dễ cực đoan lắm. Không lấy cái văn hoá dân tộc, tinh thần dân tộc làm nhãn quan mà lấy giai cấp ,lấy cái thù hận làm nhãn quan để đánh đổ người này, người kia thì nguy. Ông Hoàng Tùng viết kể lại có lúc Bác Hồ khóc vì bấy giờ ông phụ trách tuyên huấn, phụ trách báo Nhân Dân nên rất gần Bác Hồ. Ông Hoàng Tùng kể lại Bác Hồ hỏi sao  Cải cách ruộng đất lại bắn vào người đàn bà? Người đàn bà Việt Nam khác với người đàn bà Trung quốc. Người đàn bà Việt Nam thì cứu nước như Bà Trưng, Bà Triệu, nuôi chồng nuôi con để tham gia kháng chiến cứu nước. Có người lại nói: hổ cái hay hổ đực cũng là hổ ăn người. Cho nông dân đấu tố để vùng lên, nếu không thì nông dân hàm ơn địa chủ suốt đời !  Cho nên nghiên cứu về Bác Hồ thì thấy Bác Hồ có nỗi cô đơn về quan điểm “ dĩ bất biến ứng vạn biến “ . Trước mặt mình đang có kẻ thù xâm lược như thế này. Độc lập dân tộc là cái bất biến, cho nên phải ứng biến. Kẻ thù chính bây giờ là đế quốc xâm lược cho nên có những vấn đề phải lùi một chút. Trong di chúc Bác có nói khi kết thúc chiến tranh, việc đầu tiên là phải chỉnh đốn lại đảng chứ không phải để đến 30 năm mới làm. Trước khi viết di chúc, Bác xuống Côn Sơn , đọc bia Nguyễn Trãi. Người nghiêng đầu vào bia, ôm lấy cái bia Nguyễn Trãi. Điều đó đủ nói lên Bác có nỗi đau của Nguyễn Trãi. Các nhà nghiên cứu giỏi, bắt vào cái thần cái ảnh này thì sẽ hiểu tại sao ngày rằm tháng 1 năm 1965, Bác Hồ đọc bia Nguyễn Trãi vì Nguyễn Trãi để lại nỗi oan 500 năm trước, coi chừng khi kết thúc chiến tranh đừng để lại nỗi oan này. Trong chiến tranh thì cái mau thuẫn trong nội bộ dân tộc phải lùi lại. Rồi ngày 10/5/1965 Bác bắt đầu viết di chúc, đầu năm thì ôm lấy bia Nguyễn Trãi ở Côn Sơn rồi lên động Thanh Hư để cảm cái khí thiêng của dân tộc. Cái nguyên khí của đất trời con người ấy đã cảm thấy cái chuyển động trong cơ thể không còn có thể sống lâu hơn được nữa. Rồi người sang Trung quốc đúng ngày 19/5/ 1965 Bác về quê hương Khổng tử giữa lúc Mao đang phê Lâm, phê Khổng, giữa lúc Trung quốc đang làm đại cách mạng văn hoá , đập cả trường đại học Thanh Hoa. Vậy mà Bác Hồ cũng cụ Đổng tất Vũ, phó chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa , người ngoài Đảng như cụ Phan kế Toại của ta, di lên quê hương Khổng tử , nằm ngủ tại đây mỗi đêm, thắp hương cho Khổng tử . Các nhà lý luận không giải thích xem tại sao cụ không sang Liên xô, sang Đức để thắp mộ cụ Mác mà lại đến thắp hương cho Khổng tử giữa lúc Trung quốc đang đánh đổ Khổng tử . Cái triết học phương Đông , đặc biệt là Việt Nam nó thâm thúy như thế đấy.

           Cụ Hồ chúng ta là vậy, không trích dẫn đoạn này đoạn khác của các triết gia mà nói dễ hiểu, cái tầng ngữ nghĩa thì luận nó ra. Cụ về thì làm gì có bài thơ thắp hương cho Khổng tử năm 1965. Di chúc Bác trích một mẫu đăng báo 1969 khi người ra đi, thì đến năm 1989, tức là 20 năm sau, thấy không ai đá động gì đến di chúc Bác cả, đồng chí Vũ Kỳ mới chép ra trong hồi ký, “ Bác Hồ viết di chúc “ . Đặc biệt là Bác dặn vấn đề chỉnh đốn Đảng, miễn thuế cho nông dân và vấn đề hoả táng cho Bác để giải thoát cho người về với trời đất chứ giữ thi thể lại trong lăng là ngoài ý nghĩ của Bác. Việt Nam ta không để lăng tẩm lại đế đô, vua băng hà thì đưa về quê như 8 vua triều Lý là về Bắc Ninh, các vua Lê thì về Lam Kinh, vua Trần về Tức Mạc và Đông Bắc tổ quốc. Bác Hồ không dặn để lại ở Ba Đình. Bác khai sinh Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở Ba Đình, Bác hoá thân cũng đúng vào cái ngày ấy nhưng di chúc thì hỏa táng, sau này có nhiều điện thì điện táng để giữ vệ sinh, tiết kiệm đất cho nông dân. Còn tro cốt phân chia ra làm 3 cho Bắc, Trung , Nam . Bà con để một nơi nào đó để tiện việc trồng cây lưu niệm. Bác đã xem mộ cho Bác rồi, tức là Đà Chông, dưới chân núi Tản Viên. Núi Tản Viên là một trong những ông thánh “ tứ bất tử “ . Bây giờ có một ông nào đó xây một cái đền thờ bằng đá rất đẹp trên đó để thờ Bác. Lập đền thờ Bác trên núi Tản Viên là sai ý Bác. Dân sẽ có ý kiến là cụ Hồ không khiêm tốn, làm đền trên núi Cha, núi Mẹ là núi Mẫu ở bên này. Chính nơi Bác đã tìm là cái hang ở Đá Chông, dưới chân núi Đức Tản Viên. Thời chiến tranh Bác làm việc ở đây, Bác còn dặn lấy thép không rỉ để chống rết, chống rắn nó vào. Sau khi hỏa táng thì lấy một phần tro cốt vào đây. Chỗ này ta có thể để một hướng cho người đến viếng Bác thắp hương rồi trồng cây lưu niệm. Thế là di chúc để lại cũng không được thực hiện. Thế gian có chuyện cha để lại di chúc cho các con thì các con không những không thực hiện mà còn đánh nhau để chia của..Thế mà hôm nay, di chúc dặn phải “ giữ đoàn kết như giữ gìn con ngươi của mắt người” thì học trò – còn gọi là học trò xuất sắc cả, mà phê cánh cả. Nguyện vọng của Bác là Việt Nam hoà bình như vậy. Hoà bình là muôn đời. Cái trong Bình Ngô Đại Cáo như các thấy các cô đã giảng bài như vậy. Nước hoà bình, độc lập , thống nhất. Thống nhất độc lập đi đôi với dân chủ và giàu mạnh chứ không dặn là xã hội chủ nghĩa. Xã hội chủ nghĩa là cái mơ ước. Hồi đó có đồng chí trong thường vụ trung ương muốn Bác sửa: Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập , dân chủ , phú cường. Bác bảo phú cường là từ Hán- Việt. Nên nói giàu mạnh tức dân giàu, nước mạnh.

     Năm 1947, Bác Hồ vào Thanh Hoá có gặp cụ Lê Thước, Giáo sư Cao xuân Huy, Giáo sư Nguyễn mạnh Tường, Giáo sư Đào duy Anh lúc đó tản cư theo trường về Thanh Hoá. Bác vào Thanh Hoá ngày 20/2/1947, phê bình tỉnh uỷ Thanh Hoá mất đoàn kết, cách mạng chưa có gì đã tranh công, tranh phần. Họp tỉnh uỷ , uỷ ban xong thì Bác gặp các trí thức. Cụ Lê Thước thay mặt anh em đứng dậy nói, “ Thưa bác…” Bác Hồ nói ngay, “ Chúng ta đồng lưá, bác để cho thanh niên gọi” . Giáo sư Lê Thước đồng tuổi, lại cùng quê với Bác, bèn nói, “ Thưa cụ, anh em chúng tôi đây xin cụ giải thích cho một điều: Chế độ Cộng hoà dân chủ, Xã hội chủ nghĩa , Dân chủ mới, vậy chế độ gọi là gì cho đúng ?

   Bác cười và nói, “ Xin các cụ, chúng ta đừng lệ thuộc gì vào mấy cái danh từ. Ta hãy coi đây là nước dân chủ mới. Vì bên Tây đã có dân chủ từ năm 1789 rồi, 1776 bên Mỹ , bên Anh còn trước nữa nhưng đến bây giờ chưa thực sự có một xã hội dân chủ có công bằng. Cụ thể nước ta bây giờ là nước dân chủ kiểu mới. Tôi nói thí dụ như Thanh Hoá đây là đất văn vật mà hiện nay ở miền xuôi có 80 đến 85 phần trăm, miền núi đến 95 phần tăm dân mù chữ. Đấy, cách mạng ta tiếp thu một cái gia tài kiệt quệ sau 80 năm bị Pháp đô hộ. Thế thì bây giờ chúng ta làm sao cho ai cũng biết đọc biết viết và trung học , đại học trên cái nền của toàn dân biết chữ. Còn nhà bị đói nghèo thì xoá được đói nghèo, để có ăn, nhà có ăn rồi thì đến no đủ, nhà no đủ rồi thì đến giàu có, nhà giàu có rồi giàu nữa. Còn nói Xã hội chủ nghĩa hay Cộng sản chủ nghĩa ta chưa quan tâm. Nội dung của chế độ ta phấn đấu bằng được như trên. Bây giờ ta lại nói 10, 15 năm nữa bằng Liên xô, bằng Mỹ thì sao bằng được. Ảo tưởng như thế, hão huyền như thế không thể thực hiện được thì đổ vỡ chứ ! Khi đuổi giặc xong, hy sinh hàng triệu người mà cuối cùng không có cái bát ăn, trong khi đó một số nước trong khu vực không đánh giặc như ta mà có độc lập , có người suy ra cái này. Họ quên một điều nếu không có người đi hàng đầu trong việc chống đế quốc thực dân, làm tà cái ý chí xâm lược , làm bá chủ thế giới của nó. Muốn có bình đẳng cho các dân tộc thì có dân tộc phải hy sinh. Hồi chiến tranh, cứ đến chiều thì sợ nhất cái dàn pháo Tân tây lan, Thái lan, Nam Triều tiên. Tất cả các nước huà vào với Mỹ. Các nước đó được Mỹ dùng làm hậu cần tại chỗ. Đợt đầu thì nó đưa từ bên Mỹ ( Honolulu) sang, sau này tất cả sản xuất phục vụ chiến tranh và các nước khu vực này. Năm rồi tôi có bài viết Bác Hồ có 7 thư gửi Tổng thống Truman để công nhận cho độc lập của nước ta, để tránh một cuộc chiến tranh, thế mà có người không hiểu gì cả, lại nói cụ Hồ thích được dân tộc anh hùng, để cho dân mình khổ. Nói vậy là không phải. Khi cụ ở Luân –Đôn, cụ ra nghĩa trang Hây-ghết đặt một bó hoa lên mộ cụ Mác, chiêm ngưỡng một thiên tài có một chủ nghĩa cứu cánh để tham khảo, giải quyết vấn đề độc lập dân tộc của nước mình, chứ không phải là quyết định. Thế cho nên những năm cụ ở Quốc tế Cộng sản rất cô đơn, đưa ra mấy cái luận điểm về giải phóng dân tộc thì bị cô lập . Lúc đầu định đi về Phương Đông. Từ Mạc tư khoa mà sang Trung quốc chỉ được cấp kinh phí đi đường một chuyến sang Quảng Châu năm 1924. Đây là lần duy nhất. Còn thì tự nuôi lấy mình, nuôi lấy đội ngũ cán bộ cách mạng. Cho đến 1927, về lại Mạc tư khoa,năm 1928 lại bị đẩy đi khỏi Mạc tư khoa vì không muốn để Nguyễn ái Quốc ở lại Mạc tư khoa, sợ quan điểm của Nguyễn ái Quốc sẽ ảnh hưởng đến đại biểu của các dân tộc khác dự đại hội Quốc tế Cộng sản.  Về Thái lan xây dựng cơ sở cách mạng trong Việt kiều rồi sang Trung quốc để hợp nhất ba đảng Cộng sản trong nườc thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Bác chủ trương đoàn kết các giai tầng xã hội , không phân biệt giai cấp. Đó là Đảng Bác Hồ sáng lập ngày 3/2/1930. Nhưng đến ngày 11/4, Đệ tam quốc tế phái ngay đồng chí Trần Phú về nước, mang theo một bản phác thảo đề cương do ông Míp, Viện trưởng viện các vấn đề dân tộc của quốc tế cộng sản bằng tiếng Nga để đồng chí Trần Phú bổ sung thêm phần khảo sát phong trào trong nước viết bằng văn bản gọi là luận cương tháng 10 của Trần Phú, bỏ các văn kiện của Nguyễn ái Quốc thành lập Đảng như: chính cương vắn tắt, điều lệ vắn tắt , chương trình tóm tắt , tên mà Bác Hồ đặt ra lúc thành lập Đảng! Bỏ bí thư đầu tiên là Trịnh đình Cửu, còn gọi là Cửu kính trắng, một trí thức ở Hà nội . Vợ ông là bà Lệ,một lão thành cách mạng hiện nay hơn 95 tuổi , đang sống trong một ngôi nhà ở hồ Tây. Khi Đảng của Bác Hồ được thành lập bị bỏ , tháng 10 họp không có Nguyễn ái Quốc, đặt lại tên Đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương, tất cả mọi người phải vô sản hoá. Trong dự thảo luận cương của đồng chí Trần Phú  ( chưa được hội nghị này thông qua) các nhà sĩ phu yêu nước thì gọi là bọn Huỳnh thúc Kháng, những trí thức yêu nước thì gọi là bọn Nguyễn an Ninh.. Tôi không dám nói bịa trước anh linh của một nhà ái quốc , các ý trên đã ghi trong Luận cương của đồng chí Trần Phú. Đó là tả khuynh ấu trĩ của một thời sai lầm về quan điểm như vậy. Chúng ta nhìn rõ cái sai, nhưng chúng ta vẫn kính ái đồng chí Trần Phú, một nhà yêu nước của dân tộc ta . Với Bác Hồ thì ngược lại, năm 1945 Bác ôm lấy cụ Huỳnh thúc Kháng mới từ Quảng Nam ra và nói, “ Cụ ra đây là “ an dân lạc quốc “ . Ta lục lại lịch sử như thế để mà thấy cái gì cứ rập khuôn theo nước ngoài là chết, không độc lập là chết, xa rời dân tộc là thất bại, chứ ta không biệt phái. Cho đến tháng 8 nam 1935, Đại hội thứ nhất tại Ma cao, đồng chí Hà huy Tập viết một văn bản đề nghị Đệ tam quốc tế thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn aí Quốc.

    Bác Hồ suốt đời chỉ muốn cho dân tộc độc lập , nhân dân no ấm. Khi giành được độc lập rồi thì Bác chỉ mơ ước làm sao cho đất nước hoà bình, thống nhất, độc lập , dân chủ và giàu mạnh. Và khi chết rồi Bác vẫn để câu ấy trong di chúc. Nếu đi theo con đường Bác Hồ thì lấy từ cái này, ta đừng vội năm ba năm , năm mười năm để vượt ai, không nên ! Mà làm cho dân nghèo có ăn rồi no đủ, no đủ rồi giàu có, giàu có rồi giàu nữa ..cứ thế mà làm. Mọi người đều trong sạch, dân no đến đâu mình no đến đấy. Bây giờ một cái nhà của cơ quan huyện uỷ mà 700 triệu thì làm được bao nhiêu trường học.

   Hôm nay tôi nói với các thầy các cô với sự tin tưởng rằng Đại hội 9 sẽ mở ra mới hơn, dân chủ trong Đảng, nó đã chỉ ra những con người cơ hội chui vào Đảng , khuynh đảo một thời, làm cho Đảng ta lung lạc đi chệch hướng. Từ thời Bác Hồ thành lập Đảng, cũng như bao lớp người đi tìm con đường độc lập cho dân tộc, no ấm cho nhân dân, nước phải độc lập, dân phải no ấm, no ấm rồi thì được học, học ít rồi học nhiều nữa, cả dân tộc đều trí tuệ. Đã có nền văn hoá rồi thì dân tộc phải đuợc học những vấn đề của thời đại. Đến Đại hội 9 này mới thấy, còn các đại hội trước chưa thấy, bế tắc. Lần đầu tiên dân ta được tham gia ý kiến , dù là thực hiện hay không thực hiện nhưng trên đài, trên báo có đưa ý kiến của dân, của người này , người khác, tuy chưa dám đưa hết. ,

    Bên cạnh phòng họp đại hội có phòng tập họp thư từ tố cáo của đảng viên, cán bộ , nhân viên. Có đồng chí nhận thư tố cáo ôm một ôm không hết. Bây giờ các đồng chí làm chắc chắn là phiên bản ra ngay, của ông nào giao cho ông ấy, còn bản gốc thì lưu lại. Sai đúng thế nào chưa biết, ông này ông nọ có từng cái thư tố cáo thì nhận lấy.Một trăm ông uỷ viên trung ương là được phát cả, còn có phát cho đại biểu đại hội không thì không biết. Trong những thư đó thì chỉ có mấy ông không có bị tố cáo, có cả danh sách gửi tiền nước ngoài, sợ quá ! Còn làm ăn thì phải có nhà một tầng, hai ba tầng khang trang , bằng đồng tiền lao động, bằng trí tuệ làm ra nó khác, bây giờ cứ ăn chận cái này , ăn chận cái kia..

  Hôm họp trung ương, có một đồng chí cố vấn đứng dậy, bước ra nói, “ Tôi cũng không ngờ cuộc đời hoạt động đến hôm nay nó lại xảy ra dến mức thảm hại như thế này…( tức là người ta dấu cho). “Một trong ba ông cố vấn than vãn như thế . Anh ta nhận ra thảm hại thì bây giờ đã hơn 80 tuổi rồi. Lời nói tự nó vô nghĩa, nhưng ít ra thì anh cũng thấy anh tưởng anh có quyền, có lực thì có vinh quang. .. Thực tế thì không có! Đó là cái nhục đó, nó nhục ngay trên cái “ ghế” của vinh, không phải trên cái ghế cao thì nó vinh đâu.. Tùy ở anh cống hiến cho nhân dân, cho đất nước.. To mấy thì to, anh đừng tưởng ngồi cao bao nhiêu thì vinh bấy nhiêu.. đâu phải ? Anh tưởng anh là tổng bí thư, là uỷ viên bộ chính trị là ghê gớm lắm..? Vừa bước ra khỏi cái ghế là cái nhục nó đổ xuống đầu anh ngay. Một ngươì như nhạc sĩ Văn Cao, khi nằm xuống, hàng nghìn vòng hoa và trướng, nhân dân cả nước khóc ông, vĩnh biệt ông, bởi lẽ không một người nào lại không hơn một lần đứng nghiêm chào cờ Tổ quốc, hát quốc ca. Biết bao thế hệ hát những ca khúc của Văn Cao như Thiên Thai, Suối mơ, Đàn chim việt, Làng tôi, Sông lô, Thăng Long, Hành khúc tiến về Hà nội, Ca ngợi Hồ chủ tịch… Trong dòng người viếng ông, đưa ông về nơi an nghỉ đời đời, có Đại tướng Tổng tư lệnh Võ nguyên Giáp đến người đạp xích lô, người quét rác đường phố thủ đô Hà nội. Mộ ông chôn ở Mai Dịch những ngày sau rượu trắng người ta để trên mộ ông.

      Vậy “ cái quan định luận “ nằm xuống thì cái mồ anh thế nào?

    Trịnh công Sơn không có chức tước gì cả, khi nằm xuống…một nghìn năm trăm vòng hoa trắng đến viếng, ông không có vợ. Cái đó làm ta suy nghĩ chứ. Đến như bà Khánh Ly, một ca sĩ, vưà khóc vừa nói qua sóng đài BBC, “ Trịnh công Sơn là nửa cuộc đời tôi. Tôi là một ca sĩ không tên tuổi nhưng nhờ nhạc Trịnh công Sơn mà cả Sài gòn biết đến tôi và sau này bao nhiêu người biết đến tôi là Khánh Ly . Trịnh công Sơn không đi với tôi, người ta tưởng tôi là người yêu, có thể là vợ, nhưng không ! Ông Trịnh công Sơn không của riêng ai cả. Ông là người của quê hương, sinh ra ở quê hương, làm nhạc cho quê hương, hát cho quê hương,và khi đất nước có biến cố, người ta nghĩ Trịnh công Sơn sẽ đi với tôi, nhưng không, Trịnh công Sơn là người của quê hương và ở với quê hương. Có người lầm tưởng ông theo Cộng sản sau năm 75. Không, ông không theo ai, ông theo dân tộc, theo quê hương. Vì vậy khi ông sang Pháp,ông không dám đi đâu cả, ông ở trong một quán Việt Nam ở Paris, vì có kẻ muốn giết ông, coi ông là phản bội. Nhưng tôi biết Trịnh công Sơn là người của quê hương, không bao giờ ông sang một nước khác nói là quê hương thứ hai của mình. Hôm nay tôi khóc ông vì nếu không có ông thì cũng không có tôi. Nhưng mà người như tôi cũng không lôi kéo được ông đi. Đến khi ông sang thăm nước Pháp, haio người ngồi với nhau, uống với nhau ly cà phê trong quán Việt Nam, hai người cùng khóc nhớ lại những đêm mưa Sài gòn, chiến tranh trùm khắp quê hương, “ hát cho đồng bào nghe”, “ dậy mà đi đồng bào ơi . Và hôm nay ông nằm xuống trên mảnh đất quê hương, đó là Trịnh công Sơn của quê hương. Ông không phải là của riêng tư của ai hết.”

    Một nghệ sĩ đi hát mà để lại niềm thương tiếc trong lòng nhiều người . Nhạc sĩ Trần long Ẩn đọc điếu văn trước mộ Trịnh công Sơn.

 Nhắc lại 1500 vòng hoa trắng , người đi tiễn biệt Trịnh công Sơn toàn đi bằng xe gắn máy, nườm nượp từ thành phố đến nghĩa trang và đặc biệt trong đám tang này có Đại tướng Võ nguyên Giáp đến tiễn đưa Nhạc sĩ Trịnh công Sơn.

     Tôi thấm thiá một bài học, “ Chức tước nó làm lợi ích cho nhân dân , người ta quý. Làm người thầy thuốc chữa được bệnh cho nhân dân , đó là hạnh phúc. Người thầy giáo truyền kiến thức, học vấn cho học trò, người cán bộ hoạt động trên địa hạt của mình..làm được việc có ích, nhà văn viết những trang sách không xu thời, không bóp méo sự thật, không dây bẩn vào tâm hồn người đọc. Những trang sách đó người đời ghi nhận.”

   LỜI CÁM ƠN CỦA NHÀ TRƯỜNG

Thưa nhà văn Sơn Tùng

  Hôm nay là buổi học cuối cùng của khóa 40 lớp “ Đào tạo cán bộ quản lý ngành giáo dục “ và là buổi sinh hoạt cuối cùng của khóa học trên hội trường.

   Cũng như người đạo diễn của một vở kịch, màn cuối cùng trước khi màn khép lại bao giờ cũng là màn xúc động nhất, hay nhất và gây ấn tượng.

  Hôm nay để có món quà chia tay các đồng chí trước khi ra về, nhà văn Sơn Tùng, chuyên gia nghiên cứu về Chủ tịch Hồ chí Minh, được mệnh danh là “ nhà Hồ chí Minh học” đến nói chuyện với chúng ta về “ chân dung một người “ mà tên tuổi của người  gắn liền với tinh hoa và khí phách dân tộc. Đó là Chủ tịch Hồ chí Minh muôn vàn kính yêu,và thực tế ý tưởng của tôi được nhà văn đáp lại bằng những mẫu chuyện của nhà văn hôm nay, tôi xin đưa ra một suy nghĩ :

  “ Đã đến lúc sự thật phải trả về cho sự thật, lịch sử trả về cho lịch sử với giá trị nguyên bản đích thực của nó, dẫu có biết rằng sự thật nói ra có xù xì ..nhưng vẫn có giá trị hơn rất nhiều so với lời nói nhận định sai lạc , giả dối, giá lạnh , không có hồn, nhưng sự thật đủ quang minh chính đại phù hợp lý tưởng con người  và đặc biệt đó phù hợp với lương tâm của chúng ta.

   Giờ chia tay với nhà văn Sơn Tùng đã đến, xin thay mặt anh em thành tâm chúc nhà văn và gia đình mạnh khoẻ, hạnh phúc, sống thanh thản với một cuộc sống vật chất còn nghèo khổ.

     Nhưng nhà văn ghi nhận cho một điều, đối với anh em chúng tôi, những giá trị tinh thần mà nhà văn đã đem đến cho chúng tôi trong khoá học này luôn khắc sâu trong tâm trí chúng tôi.

    Trước khi ra về, một lần nữa xin cám ơn

   ( Thời điểm Đại hội 9 sắp khai mạc )

PHẦN PHỤ LỤC

   Nói chuyện với đồng chí Cao Nham;

1)         Đầu năm 2001 tôi có dịp gặp và nói chuyện với Đại tá cựu chiến binh Cao Nham tại Nam Đồng. Trong câu chuyện có một chi tiết tôi không thể quên, theo lời kể của đồng chí Cao Nham về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, ông Lê Duẩn nói với Bác Hồ, “ Đề nghị Bác để tôi đánh trận này, nếu không thắng, tôi xin từ chức tổng bí thư nhưng với điều kiện Bác phải cách chức Võ nguyên Giáp( không nói lý do?)

Vào trận đánh kết quả không như ý ông Duẩn. Đến đợt 2 ông Duẩn lại nói với Bác cũng với đề nghị trên,kết quả cũng không đạt được như ý ông. Tiếp đến đợt 3, một lần nữa ông Duẩn lại nhắc lại đề nghị trên, nhưng kết quả cũng không hơn gì các đợt trước

  Vậy là cả 3 đợt tấn công và nổi dậy như ông Duẩn chủ trương không đạt theo ý định của ông. Đương nhiên ông phải” từ chức “ như ông tự xác định với Bác chứ, “ quá tam” mà. Nhưng không thấy ông tỏ thái độ nào cả ( trong câu chuyện của đồng chí Cao Nham ).

  Tuy nhiên ( có thể theo tôi hiểu) Bác Hồ cũng không muốn có sự xáo trộn khi sự nghiệp giải phóng miền Nam chưa hoàn thành nên Bác bảo Lê Duẩn cứ làm tổng bí thư vì Duẩn có uy tín với đồng bào miền Nam. Còn chú Giáp giỏi quân sự thì cứ để chú ấy làm bộ trưởng quốc phòng.

2)         Về chủ trương Tổng tiến công và nổi dậy, Bác Hồ và ông Giáp không tán thành, nhưng thiểu số phải phục tùng, phải chấp hành, nhưng vì lợi ích của cách mạng không để tổn thất cho lực lượng ta nên Bác đặt vấn để hỏi ông Giáp, “ Có cách nào giảm nhẹ thiệt hại? Ông Giáp nói, “ Chỉ có cách đánh các căn cứ gần giới tuyến để kéo bớt lực lượng địch ra ngoài này. “

 Vì thế ta mới thấy có các trận đánh ác liệt dọc đường 9 như Côn Tiên, Dốc Miêu, Khe Sanh, A sâu, A lưới.. Địch phải kéo ra 4 sư đoàn để đối phó ở ngoài này, Và Tổng thống Giôn xơn đã có một câu tuyên bố phải tử thủ Khe Sanh chính vào lúc đó.

3)         Vậy căn cứ vào đâu mà ông Duẩn dám đề nghị với Bác sự tự khẳng định: Nếu không thắng thì xin từ chức?

  Câu hỏi này có thể được giải đáp với mẫu chuyện của ông Mười Hương như sau:

    Năm 68, khi tôi còn công tác ở K.68 ( Bộ CA) ( Tôi về bộ CA tháng 8/1966 sau khi tốt nghiệp đại học ngoại giao). Ông Mười Hương là cục trưởng thay thế ông Nguyễn thế Tùng về hưu. Lúc đó cơ quan còn đang ở Quan Nhân, sơ tán cách Hà nội 30 km, ông Mười Hương nói chuyện với cán bộ P ( K 68) có tổ công tác của tôi. Ông nói, “ Ý định của ta trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân  1968 là chiếm đài phát thanh Sài gòn, đánh sứ quán Mỹ bắt Martin, đánh Dinh Độc Lập bắt Nguyễn văn Thiệu, để chúng tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh Sài gòn

   Nhưng trận đánh diễn ra không suông sẻ như ý muốn của ông Duẩn vì Đại sứ Martin ở cách sứ quán 200m, còn Tổng thống Thiệu về Cần Thơ ăn tết, do không nắm sát tình hình đó nên không bắt được chúng ( theo lời kể của ông Mười Hương ). Vì thế nên mới có đợt 1, đợt 2, rồi đợt 3 là bởi vì sau khi chiếm được đài phát thanh Sài gòn từ đợt 1 rồi, nhưng lực lượng ta cứ phải giữ nó đấy chờ bắt hai tên kia nên mới sinh ra có đợt 2 nhưng cũng không tóm được Martin và Thiệu ,nên lực lượng chiếm đài phát thanh vẫn cứ phải cố thủ để chờ tiếp đợt 3 ( xem sao) . Và kết quả thì ai cũng đã biết.

    Ông Mười Hương nói tiếp, “ Năm 1967 Bác có ý định vào Nam bằng đi bộ, nhưng Bộ chính trị không đồng ý vì tuổi tác sức khoẻ của Bác ( có lẽ chỗ này trùng với câu chuyện ông Sơn Tùng nói về hội nghị ba nước Đông Dương họp ở Phnom Pênh lúc bấy giờ ). Nên ta cố ý giành thắng lợi trong đợt Mậu Thân 68, chấm dứt chiến tranh để đưa Bác vào Nam theo nguyện vọng của Bác. ( Câu chuyện này chính xác đến đâu thì tôi không rõ, nhưng đây là câu chuyện của ông Mười Hương nói ở P 5 chúng tôi năm đó ).

  Đến đợt 3 cũng không bắt được Martin và Thiệu  thì cơ hội “bất ngờ “ không còn nữa và địch phản công lại . Thế là chủ trương Tổng tiến công và nổi dậy nhằm mục đích tối thượng không đạt được. Tuy nhiên sau đó Mỹ buộc phải chấp nhận đàm phán với ta ở Paris

4)         Vế cuộc đàm phán Mỹ- Việt ở Paris ta đã chuẩn bị từ năm 1963, khi tôi còn đang học khoá 3, khoa Đối ngoại của trường Kinh Tài.

Trong buổi nói chuyện với sinh viên ngoại giao khoá đó, sinh viên nêu câu hỏi với Bộ trưởng Xuân Thuỷ về tình hình chiến sự và đàm phán sẽ diễn ra theo hướng nào và triển vọng thì ông Xuân Thuỷ nói, “ Cuộc chiến diễn ra ác liệt thế nào thì ta đã biết, còn về đàm phán thì cũng vì thế mà ta xác định thế này, rồi ông đọc hai câu thơ ( Ông Xuân Thủy là nhà báo, bộ trưởng ngoại giao và là nhà thơ ):

  Đàm đàm đánh đánh đàm đánh đánh

  Đánh đánh đàm đàm đánh đàm đàm.

Rồi ông giải thích cuộc đàm phán với Mỹ sẽ diễn ra cù nhầy kiểu như thế ,mà đúng là thế thật. Hội nghị Paris kéo dài từ năm sau tết Mậu Thân 1968 cho đến đầu năm 1973 ( 5 năm).

 Để chuẩn bị cho cuộc đàm phán đó, ông Xuân Thuỷ được rút khỏi chức bộ trưởng ngoại giao để làm trưởng đoàn đàm phán ở Paris. Ông Nguyễn duyTrinh lên làm bộ trưởng ngoại giao từ đó.

   Dưới đây là mẫu chuyện nhỏ về ông Hà văn Lâu. Bác Hồ mời ông Hà văn Lâu đến giao nhiệm vụ. Ông Hà văn Lâu đến giao nhiệm vụ. Ông Hà văn Lâu hỏi Bác về công tác sắp được giao, thì Bác nói, :

“ Tên chú thế nào thì công tác của chú cũng thế “

Đó chính là Hội nghị Paris là nơi ông Hà văn Lâu công tác lâu năm ở đoàn đàm phán của ông Xuân Thuỷ suốt 5 năm

   Câu chuyện tôi đuợc nghe kể lại

  Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nguyễn huy Tưởng có hỏi cụ Hồ :

_ Bây giờ đạo đức dạy cái gì ?

 Cụ Hồ nói:

_ Cẩn, kiệm, liêm, chính.

Chắc là ông Tưởng nghĩ rằng cách mạng là đổi mới tất cả vì khi đó cũng đang có phong trào vận động xây dựng đời sống mới thì dạy đạo đức cũng phải là “ đạo đức mới “ . Lúc đó chưa có khái niệm đạo đức xã hội chủ nghĩa như bây giờ , nên ông Tưởng mới nói :

 _ Cái đạo đức đó cổ quá

Thì cụ Hồ trả lời như thế này với ông Tưởng:

_ Thế thì ngô, luá có từ bao giờ ?

( mất một đoạn )..có từ cổ xưa rồi, mà đạo đức “ Cần, Kiệm, Liêm , Chính ) là 4 đức tính thuộc về đạo đức nhân văn đã đưa xã hội tiến bộ và phát triển không ngừng đến ngày nay. Và như vậy thì nó cũng không bao giờ cũ , không bao giờ cổ, cũng như ngô, luá chúng ta ăn có từ thời thượng cổ đến nay nó đang nuôi chúng ta.

 Xã hội loài người mà xa rời 4 đức tính đó thì chắc ai cũng hiểu là thế nào rồi.

 Đó là ý nghĩa của một trong những câu thành ngữ cổ xưa “ còn giá trị  với thời đại như nhà văn Sơn Tùng nói ở trường đào tạo cán bộ quản lý ngành giáo dục ngày 11 tháng 4 năm 2001

   Trích một số thư mới đây của Cựu chiến binh Trần nhật Độ, nguyên chính ủy bộ tư lệnh binh chủng đặc công ( Khu tập thể Nam Đồng- Đống Đa- Hà nội).

 Sau khi nhận xét , đánh giá công lao cống hiến vào sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước của một số đồng chí lãnh đạo, kể cả khuyết điểm thiếu sót, thư đã viết:

•           Mậu Thân 1968, mọi người không đồng tình đánh đợt 2, 3 . Vốn không phải thời cơ phát huy vai trò của chủ lực, lại không còn điều kiện phát triển tiến công mà tổng khởi nghĩa mà ngay từ đầu đã không khuấy lên được

•           Việc thành lập quân đoàn , cuối năm 1970 anhVăn đã đề ra, nhưng bị bác, bị thiểu số. Năm 1971 trong chiến dịch Trị Thiên cũng vậy. Đến tháng 1o năm 1973 mới có quân đoàn 1, sau đó là quân đoàn 2 ở Trị Thiên. Nên nhớ cụm sư đoàn là cấp số cọng, quân đoàn là cấp số nhân.

•             Chiến dịch Trị Thiên năm 1972 , nếu giữ nguyên ý kiến anh Văn lấy lại Trị Thiên làm hướng chủ yếu thì sẽ có cánh quân thu hồi  vào Thừa Thiên Huế. Hiệu quả chiến dịch sẽ khác xa.

•           Đánh Kampuchia, anh Văn cho rằng chỉ nên đánh đến sông Mêkông, dừng lại và keó Shihanouk  về để cách mạng bạn tự phát triển, tự giải phóng. Ta không mang tiếng, không sa lầy, không bị cô lập.

•           Trong các cuộc nói chuyện với đồng bào ,cán bộ , không ít lần đồng chí Lê Duẩn đã có lời phê phán, phản bác Bác Hồ và có ý vượt trội lên. Ví dụ như nói,:

 -Giáp thì sợ Mỹ, Bác thì sợ Trung quốc. Bác không sát thực tế . Bác không có điều kiện nghiên cứu cơ bản. Tôi đây, tôi nghiên cứu rất nhiều lý luận cơ bản. Bác chịu ảnh hưởng Nho giáo, Khổng tử..thậm chí có những lần Bác đã đến hồi lẩm cẩm.”

( mất một đoạn )..” Thời thắng Mỹ “ dưới bút danh Thép Mới , quy hoạch 36 bài sẽ đưa ra kết luận “ Thời thắng Mỹ “ là thời đại gì ? Đã đăng được 16 bài trên báo Nhân Dân. Do làn sóng phản ứng của đảng viên, cán bộ, nhân dân, buộc phải đình chỉ không được đăng tiếp nữa. So với 16 bài đã đăng, tác giả và báo Nhân Dân đã kịp chấm dứt và cắt ngang thời đại Hồ chí Minh vào năm 1954 và hạ bệ Hồ chí Minh ở đây với hai sai lầm chết người trên hai mục tiêu cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ. Đó là chống phong kiến thì chậm tiến hành cải cách ruộng đất. Đối với chế độ xâm lược thì hiệp định Ge-ne-vơ là thoả hiệp với địch, là ảo tưởng , là ngăn cản nhân dân Việt Nam, Lào, Kamphuchia giành thắng lợi hoàn toàn.

•           Cũng trên báo Nhân Dân, bài báo giới thiệu tác phẩm , “ Bức thư vào Nam “ của đồng chí Lê Duẩn, đã xưng tụng đồng chí Lê Duẩn là “ tổng công trình sư “ của đường lối đánh Mỹ và “ tổng tư lệnh trên thực tế “ . Chỉ một câu ngắn gọn gồm vỏn vẹn 16 từ , bài báo đã đồng thời phủ định hai nhân vật lịch sử trọng yếu là Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp. Hồ chí Minh là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là đại biểu cho ý chí và khí phách của toàn dân tộc, là người thiết kế đường lối đánh Mỹ đã được manh nha từ chiến thắng Điện biên phủ. Từ Hội nghị Geneve, Võ nguyên Giáp là bí thư quân uỷ trung ương và tổng tư lệnh. Cho nên không thể là danh nghĩa mà là thực quyền chiến đấu và hoạt động ( có văn bản chính thức của trung ương).

•           Nghị quyết 15 năm 1959 là do Bộ chính trị phân công Võ nguyên Giáp khởi thảo với sự chấp bút của Hoàng Tùng và Trần quang Huy tại Đồ Sơn

•           Sau khi nước nhà thống nhất, nếu chấp nhận ý kiến của ông ( Đại tướng Võ nguyên Giáp) về xây dựng kinh tế là: trước hết phải để thời gian khôi phục rồi mới tính đến phát triển, và phải đặt nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, thì chắc chắn là hạn chế được những sự mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế quốc dân lúc bấy giờ, đã dẫn đến khủng hoảng đời sống.

SƠN TÙNG

Advertisements

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s