TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN BÍ MẬT THÀNH ĐÔ 1990 – KỲ 15

Phẩn nộ lời “Bác” bất trung với dân tộc Việt Nam

Ngày 22 tháng 2 năm 1982. Võ Văn Kiệt thay mặt BCT/BCH TƯ Việt Cộng tự hào tuyên bố: “Năm 1979, Việt Nam chiến thắng, đánh cho Trung Quốc 1000 năm không dám quay đầu trở lại”.

Hóa ra lời tuyên bố của đảng “Bác Hẹ” trống rỗng không linh ứng tí nào, hầu hết xưa và nay vẫn thế không thay đổi vốn đã lừa bịp không muốn hiểu thấu cục diện thế giới, dù tình thế diễn ra theo trạng thái khác vẫn tin tưởng có “Hồ-Mao” chỉ đường độc trị, nay đã hơn 70 năm. Bỗng năm (5) năm sau vào ngày 2 tháng 4 năm 1984 không hẹn lại đến, (1979-1984). Trung Cộng xua quân mở cuộc chiến tranh, đánh vào biên giới Việt Bắc tại dãy núi Lão Sơn chạy dài từ Lào Cai đến Hà Giang, trường kỳ chiến tranh 12 năm sau Trung Cộng chiếm hết dãy núi Lão Sơn (đất cũ).

Thiếu Tướng Lưu Xương Hữu (Liu Changyou) chỉ huy quân đoàn 14, quân trại Lão Sơn tại nông trường Thiên Bảo (Mary Rose). Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm.
Thiếu Tướng Lưu Xương Hữu (Liu Changyou) chỉ huy quân đoàn 14, quân trại Lão Sơn tại nông trường Thiên Bảo (Mary Rose). Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm.

Chiến trường Ngũ Sơn gồm cao điểm Lão Sơn (Laoshan-老山), Lâm Sơn (Forest Hill-林山), Giả Âm Sơn (Qui Yinshan-者阴山) Bát Lý Hà Đông Sơn (Balihe Mountain-八里河东山) và Ngân Sơn (Yinshan-银山). Hai quân binh Việt Cộng-Trung Cộng kịch chiến chưa từng có trong lịch sử “kinh thiên động địa” theo suy nghĩa người Châu Á, và thế giới cũng cho thấy điều này, thế nhưng vốn đảng “Bác” ém dẹm quá tài tình, bởi “Tình đồng chí và tình anh em”.

Tình báo Hoa Nam có bí danh "Ping Lin", tướng của Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam tiết lộ chính Đại tướng có bí danh "phân Tian" là một trong những Hoa Nam bán Lão Sơn. Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm.
Tình báo Hoa Nam có bí danh “Ping Lin”, tướng của Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam tiết lộ chính Đại tướng có bí danh “phân Tian” là một trong những Hoa Nam bán Lão Sơn. Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm.

Sau trận chiến Lão Sơn, Việt Cộng đầu hàng rủ nhau đến Hội nghị bí mật Thành Đô 3-4/9/1990. Lần nữa tên tuổi của Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh đi vào lịch sử bán nước. Đến tháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt thân phận bề tôi đối với chiếu chỉ triều đình buộc phải đi chầu kim thượng Bắc Triều Giang Trạch Dân, báo cáo tình hình giải quyết biên giới giữa hai nước, gọi là “hiệp định nhượng toàn diện”. Vào năm 2000, Việt Cộng và Trung Cộng trải qua cuộc chiến âm thầm cướp đất xê dịch “cột mốc biên giới”, nhân dân Việt Nam không thể nào biết điều này, ai ngờ đảng “Bác Hẹ” đi quá đà để mất nước theo “tầm ăn dâu”, không bao giờ đảng “Bác Hẹ” hổ thẹn hành động bán nước, với lời truyên bố “Năm 1979, Việt Nam chiến thắng, đánh cho Trung Quốc 1000 năm không dám quay đầu trở lại”.

Việt Nam rơi vào vòng xoáy của đảng Cộng sản, tính đến nay đã có đến 6 thời kỳ mật nghị bán nước:

1 – Lần đầu tiên năm 1957. Hồ Chí Minh ký bán nước Việt Nam cho Trung Cộng qua hiệp ước “Vạn niên, loan lí đích bạch long vĩ đảo”. “Bác Hẹ” đã chủ động ký với Chu Ân Lai. Trước đó Việt Nam đã bị một lần Hán đô hộ 1000 năm. Ngày nay “Bác Hẹ” cho Việt Nam đi tàu suốt, hoàn toàn mất nước muôn năm (10.000 năm). Những người thừa kế tiếp tục tuân theo lệnh của Trung Cộng khai triển văn kiện năm 1957 của Hồ Chí Minh.

2 – Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Phạm Văn Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh dâng Công hàm bán Biển Đông.

3 – Ngày 3-4/9/1990, Nguyễn Văn Linh, Hội Nghị bí mật Thành Đô tại tỉnh Tứ Xuyên. Viết lên một trang sử thoả hiệp, cấu kết bán nước theo âm mưu đến năm 2020.

4 – Đỗ Mười, năm 1991 Hội nghị bí mật tại Bắc Kinh. Tiếp nhận “16 chữ vàng và 4 tốt” .

5 – Ngày 25 tháng 2 năm 1998 Lê Khả Phiêu hội nghị bí mật tại Bắc Kinh. Bổ túc khái niệm Việt Nam nô lệ “16 chữ vàng và 4 tốt”. Tháng 2 năm 2000, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thay mặt BCT/BCH TƯ đi thăm Kim Ngưu tân quán Thành Đô, đề cao ngọn cờ người tiền nhiệm đã làm vẻ vang lịch sử đảng nhờ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh. Lê Khả Phiêu nối gót vẽ hùm thêm cánh cho trang sử 16 chữ vàng (4 tốt), thổi lửa rực cháy Việt Nam “láng giềng tốt, quan hệ tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt và đối tác tốt”. Từ đó Kim Ngưu tân quán gắn liền với lịch sử đảng Cộng sản bán nước, đồng nghĩa lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam bày tỏ cùng quyết tâm với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, khi cần giải quyết Việt Nam hẹn gặp nhau Thành Đô, nội bộ “Bác” đảng, tiếp tục quan hệ bí mật.

6 – Ngày 19/06/2013, Trương Tấn Sang ký 10 hiệp ước tại Bắc Kinh nội dung “khai thác toàn diện lãnh thổ Việt Nam”, cho đến nay Trung Cộng tự do ra vào lãnh thổ Việt Nam như một liên bang chung không cần Hộ Chiếu v.v…

1

Theo nghi l ngoi giao ca hai quc gia, ông Thng Vit Cng Phm Văn Đng đến Bc Kinh dâng lên Thng Trung Cng Chu Ân Lai, mt Công Hàm Bin Đông năm 1958. Bui l rt long trng, có đi s Việt cộng là Hoàng Văn Hoan tháp tùng, ngày nay vn còn nhng photo trong bui l đó khi cn chúng tôi s công b. Trong khiy phía Vit Cng tuyên truyn rng Công Hàm gi đến Chu Ân Lai bng đưng Bưu Đin. Cho thy Vit Công xem thưng, la bp c dân tc Vit Nam. Cho đến ngày nay ngưi dân vn tin đng “Bác H“, đính kèm trên báo Nhân Dân “đng nói dân nghe” và không tìm hiu hay lun bàn nhng vn đ ln hu đ biết đâu là nguyên y ca công thc bán nưc! Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm.

Từ khi có đảng “Bác Hẹ”, toàn quốc Việt Nam điêu linh, di sản lớn nhất của Hồ Hẹ để lại một di chúc “Vạn niên, loan lí đích bạch long vĩ đảo”. Những thừa tự nối nghiệp giữ việc thờ cúng “Bác Hẹ” và thực hiện “Vạn niên….”. Việt Cộng-Trung Cộng khai mở di chúc của “Hồ Hẹ”, “làm việc” theo lý cớ chiến tranh và thâu tóm quyền lực bằng những nhân vật Hoa Nam. Từ năm 1957 đến nay (đầu 2015) đã qua 6 lần thủ tiêu dần nước Việt Nam, chưa đến năm 2020 mà đã đem lại nhiều thành quả cho Trung Cộng. Tương lai của dân tộc Việt Nam còn tùy nơi lòng nhân dân có muốn Hán đô hộ “Vạn niên….” hay không, vẫn là con ẩn số theo quyết định của “Hồ Hẹ”. Nếu nhân dân Việt Nam biết cất tiếng nói cao độ: “không”. Tất nhiên những việc gì thuộc về “Hồ Hẹ” sẽ biến mất, kể cả con số “2020” bay về đất Hán. Nếu nhân dân Việt Nam đồng loạt đấu tranh vì đất nước tự do dân chủ đa nguyên sẽ nhận ra chân dung của đảng “Bác Hẹ” và BCT/BCH TƯ Việt Cộng, từ các cấp đảng bộ trực thuộc trung ương thi nhau bỏ nước Việt Nam chạy về Phương Bắc, như Tôn Sĩ Nghị (Sun Shiyi) thuở trước 1789, và ngày nay Hoa Nam muôn mặt, ẩn mình trong tố chức đảng “Bác Hẹ” như Ban Chấp hành đảng bộ các Tỉnh và Thành phố trực thuộc Trung ương, đảng bộ khối các cơ quan Trung ương, đảng bộ khối doanh nghiệp Trung ương, đảng ủy Quân sự Trung ương, đảng ủy Công an Trung ương, Ban Cán sự đảng Ngoài nước.

1

Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang (trái) và Chủ tịch Trung Quốc (Tập Cận Bình), tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh. Ảnh chụp ngày 19/06/2013. Đứng trên phương diện ngoại giao, xem qua chân dung, Tập Cận Bình xem thường Việt Nam, ông ta có bắt tay nhưng không thèm ngó Trương Tấn Sang, một cử chỉ khinh miệt. Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm. Ảnh: Reuters.

QĐ45-QĐ/TW của Bộ Chính trị Trung ương đảng, Văn phòng Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Đảng ủy Ngoài nước, 500 đảng viên trong Quốc hội bù nhìn, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Học viện Chính trị-Hành chính Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đảng ủy, Thành ủy, Tỉnh ủy, Thị ủy, Quận ủy, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng, Các Bộ và cơ quan ngang Bộ, Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, Bộ Ngoại giao, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương. Từ bao lâu nay, mục đích tối hậu của Hoa Nam bồi đắp lọ vôi BCT/BCH TƯ Việt Cộng và lấy biểu tượng đảng “Bác” để tung hoành. Hoa Nam rộng tay thao túng, bao thầu hết hệ thống đảng và nhà  nước, cho đến nay Trung Cộng đã thành công, nhân dân Việt Nam cần phải lấy hết tâm ý nhìn vào những hoạt động của chúng và hãy nhìn thật rõ hơn những ngày bình thường, tất nhiên sẽ thấy mọi vấn đề.

2 – Ly máu đi Lão Sơn bt thành.

 Những năm trước 1979 quân báo Trung Cộng giả làm thợ săn đến đây tạo ra 23 đường mòn làm lối hướng dẫn quân binh xâm nhập, mối đe dọa đã đến gần trong lãnh thổ Việt Nam, người ta gọi là đường dịch sâu Lão Sơn (track Nanbian), cứ thế lan nhanh chóng. Hầu hết biên phòng Việt Nam bỏ ngõ, vắng mặt, không thấy có con đường mòn nào của dân quân Việt Nam được bao phủ biên giới.

Hoà ước Pháp-Thanh 1885, lấy điểm núi cao nhất cách Lão Sơn 5km làm vị trí trụ cột mốc thứ 14 giữa biên giới Trung-Việt. Đến ngày 12 tháng 4 năm 1984 Trung Cộng xua quân tràn qua Lão Sơn xâm lăng sâu 25km về hướng Nam, khi ấy quân Trung Cộng có khả năng vượt sâu hơn, như phần lớn khu vực hiểm trở, đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng trong lãnh thổ do quân đội làm chủ tình hình. Quân báo Trung Cộng cho biết vách đá núi Lão Sơn phía Nam Việt Nam không thể triển khai tiến quân vào lúc này, mặt khác ở phía Nam nước sông sâu muốn đến phải qua khu vực 30km về hướng Đông, đụng các kênh chính “Ma Lật Pha” ngăn chặn tỉnh Hà Giang Việt Nam; đứng trên đỉnh phía Tây có thể quan sát được các trụ cột thứ 14 trong các vùng núi phía Tây biên giới “Khấu Lâm Sơn” (koulin) và nhiểu điểm khác nhau. Vị trí chiến lược dãy núi Lão Sơn cực kỳ quan trọng. Từ thời cổ đại đã luôn luôn được Trung Quốc chú ý.

Theo thông lệ quốc tế, hai bên tiếp giáp biên giới trong vòng 15km không đươc cắm quân và tập trận. Nhưng các nhà quân sự Trung Quốc từ năm 1979, thường cho quân bắn phá biên giới của Việt Nam vì tự vệ chống trở lại những cuộc bắn phá của Trung Quốc, sau khi chiến thắng lấy được Lão Sơn, quân xảo quyệt báo rằng, đã có cơ hội để nắm bắt các địa hình thuận lợi cả đỉnh núi Giả Âm Sơn (Qui Yinshan-者阴山). Gần đường biên giới phía Trung Quốc, xây dựng một số lượng lớn các đường hầm, hào, hầm hố tù binh với dây thép gai đa kênh, bẫy và chống bộ binh chiến hào, phía trước những vị trí trên của cách 400-600 mét, có những bãi mìn cảnh cáo quân Việt Nam. Tại phía trước 50-100 mét có một kết hợp các bãi mìn rộng mật độ lớn. Những bãi mìn cũng đi kèm với một loạt các trở ngại để tạo thành một khu rào cản, khoảng cách giữa các khu vực hàng rào trang trí với một loạt các điều khiển hỏa lực, tạo thành một tập hợp lớn về chiều sâu của quốc phòng Trung Quốc.

Về chủ lực vị trí phòng thủ của quân đội Việt Nam, trong trại quân được trang bị với một loạt các vũ khí, mọi sự hình thành chiến thuật do chỉ huy trực tiếp, có những radio khuếch đại tầm xa, lối ra vào và xuống giao thông hào kết hợp khác nhau theo cấu trúc thượng, trung, hạ, dày đặc hỏa lực mạnh mẽ. Thứ hai, về những trại quân của Trung Quốc chuẩn bị tấn công vào những mục tiêu quân sự nối và những đường dây cùng hỏa lực pháo binh tại làng Chư Nguyên.

Quân đội Việt Nam tại huyện Lão Sơn cũng chờ khai pháo trên khắp vùng biên giới, tạo thành những lô cốt bê tông cốt thép, chiến hào tre, ở khắp mọi nơi, vách núi đá tựa điểm chống bộ binh không khác cấu tạo đường xương sống, với các bãi mìn, dây thép gai, cạm bẫy, đốn ngã tre bổ sung cho hệ thống phòng thủ, có thể sở hữu một chiến trường lớn, dễ dàng bảo vệ được hoạt động độc lập, nhưng cũng có khà năng phối hợp các vị trí bí mật. Bảo vệ một số lượng lớn vũ khí, đạn dược, quân nhu, nối dính vào một vị trí chỉ huy và liên tục phòng thủ. Đỉnh núi Lão Sơn có vài tiểu đội cố thủ “Cao Địa Sơn” (Highland Ridge) vị trí phía Đông “Tùng Mao” (Phyllodoce) có cao điểm 662,6 mét trong khu vực “Cao Địa”, liên kết với “Bát Lý Sơn” (Pali Hill) số 30, 32, 33, 34 toàn vùng cao nguyên phía Đông tạo thành toàn bộ khu vực Lão Sơn, tiềm năng cho sự hình thành gọng kìm hảm và tấn công quân sự của Trung Quốc.

Trung Cộng chiếm khu vực 1 Lão Sơn, do Sư Đoàn Bắc Quân đệ nhị 313. Được thành lập vào những năm tham chiến chống Pháp tại Việt Nam. Với kinh nghiệm tham chiến lâu dài chống quân đội Mỹ trong chiến tranh miền Nam Việt Nam. Trung đoàn 122 của nó đã được trao giải thưởng của Bộ Quốc phòng, mục tiêu “chiến thắng nhóm”, đặc biệt chiến tranh trong rừng tre, chung quanh mờ mờ muốn quan sát cuộc tấn công tốt quá khó, ban đêm đen hơn mực. Kinh nghiệm thực tế chiến đấu, cán bộ được đào tạo ở tất cả các cấp, phong cách quân sự, phẩm chất chiến đấu, suy nghĩ của con người và quân đội của Trung Cộng rất tương tự. Và các tập tin đính kèm của chiến trường 1984 đại lý Lão Sơn.

Nhấc ra một đại lý không khó, tất nhiên người khác cho đó một việc lạ. Bất cứ khi nào muốn đề cập đến những đại lý Việt Nam (tức là lực lượng đặc biệt trong lòng Việt Nam đưa tin) luôn luôn có một ý nghĩa đặc biệt của một “bí ẩn” Hoa Nam.

Đảng gọi là “bí ẩn” vì các Hoa Nam tại Bắc Việt Nam đến chiến trường khó nắm bắt địa hình, khó loại bỏ cá nhân bởi vì họ đang quản lý dạng chiến tranh ngoạn mục quân du kích, đến cả cơ quan tình báo của nước ngoài cũng không được tiết lộ bí mật. Đặc biệt là kể từ khi lực lượng này được gọi là chiến tranh đặc biệt “Tự vệ”. Từ sự kiện đặc biệt của nhiệm vụ thực hiện cho đến cách chiến tranh “đặc biệt” mọi hành động đều như nhau. Quân đội Việt Nam, gọi là “lực lượng đặc biệt tinh nhuệ”. Nói về quân đội miền Nam Việt Nam trong điều kiện khó khăn cùng cực, vẫn xem quân Bắc Việt không hơn con rối. Cuối cùng, dưới sự cạn kiệt của các mối quan hệ với Hoa Kỳ, túi kho vũ khí của quân đội Mỹ kết thúc, nhờ vậy quân Bắc Việt thành công nhiệm vụ chiến đấu.

Bối cảnh thành lập quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 6 năm 1956, Hồ Chí Minh xin Mao Trạch Đông viện trợ vũ khí, Mao gợi ý tưởng:

– Đồng chí, lãnh đạo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng cần tổ chức một cuộc họp, đọc diễn văn thực hiện Nghị quyết “Việt Nam tình hình và nhiệm vụ” lấy hội nghị Geneva đã ký kết,  âm thầm thành lập quân đội nhân dân và nhìn tình hình hai năm sau, từ đó chiếm miền Nam để đạt được sự thống nhất Việt Nam, bằng không chiến đấu chống lại thủy triều dâng cao.

Mao Trạch Đông nói tiếp :

– Chế độ Ngô Đình Diệm thông đồng với Hoa Kỳ, còn đảng ta có những đồng tình từ chối thực hiện hiệp định Geneva, phá hủy phổ thông đầu phiếu không cần tham khảo ý kiến với những phản cách mạng vũ trang, trái lại họ sợ nhất đàn áp khủng bố trong những cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng.

– Để kết thúc này, Trung ương đảng quyết định thành lập chi nhánh đầu tiên ở miền Nam Việt Nam một Lực lượng vũ trang cách mạng nhân dân (FARC), tuy bắt đầu những khó khăn và căng thẳng quấy rối, phá hoại Ngô Đình Diệm. Đầu tiên thành lập ở phía nam tiểu đoàn 250, là tiền thân của sư đoàn 198. Trong thời gian 1960-1965, Việt Cộng tìm mọi phương tiện thực hiện các Ủy ban Trung ương (CPC), Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quyết định xây dựng, phát triển cả ba lực lượng vũ trang, khu vực chiến lược, và vùng giải phong nhân dân tại miền Nam Việt Nam, hướng dẫn thành lập đội ngũ cán bộ có nhiệm vụ khủng bố thành trì của kẻ thù, tấn công thành phố là một mục tiêu quan trọng, cắt đứt giao thông vận tải của đối phương.

Tại thời điểm đó, tất cả sức mạnh của các huyện xã phía Nam ưu tiên cho Quân đội, như Quân khu 5 đã được thành lập lực lượng vũ trang tháng 12 năm 1960, và huấn luyện tổng cộng 500 đặc công; đến cuối năm 1961 huấn luyện thêm 407 đặc công trong các trại phía Bắc, bí mật vào chiến trường miền Nam. Đến cuối năm 1965 thành lập các văn phòng cục trưởng quân đội được bảo vệ bởi những tiểu đoàn cơ giới, Trung tâm huấn luyện đặc công và tình báo trải rộng 18 tỉnh trên toàn quốc Việt Nam.

Từ năm 1965 cho đến giữa năm 1967, Trung Cộng mạnh mẽ cố gắng bí mật chuyển thiết bị quân sư hiện đại cho quân đội cách mạng miền Nam Việt Nam nhanh chóng áp đảo các lực lượng vũ trang của VNCH. Tổng chỉ huy của nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam quyết định thành lập nhiều đơn vị của lực lượng vũ trang, gửi thêm quân chiến đấu từ miền Bắc vào Nam. Trong khu vực lực lượng quân đội miền Nam và các tỉnh hay trên chiến trường đã thành lập một hệ thống tương đối đầy đủ, đặc biệt là sự lớn mạnh của quân đội xâm nhập thành phố, nó được dựa trên “ba dòng” trong việc hình thành SDF, chiến đấu và phát triển.

Dòng đầu tiên: Những quân đội xâm nhập thành phố – Lập ra nhưng điện thoại SDF báo tin để từng Lữ đoàn di động nơi khác tránh đụng phục kích của quân VNCH; dòng thứ hai: Những quân đội thành chiến – đội chết và lính biệt động quân, dòng thứ ba: báo chí mô hình hoạt động quân đội mỗi tầng lớp chiến binh.

Chính người anh em Trung Cộng, Mao Trạch Đông phát biểu:

– Cuối năm 1966, Hồ Chí Minh, Phó giám đốc của tình báoViệt Nam thuộc cơ quan tình báo theo sóng cao và nghe một báo cáo đặc biệt về quân chiến đấu chiến đại lý khác nhau trong tình hình miền Nam. Tháng 1 năm 1967, Trung ương đảng đã tổ chức cuộc họp thứ mười ba (13), Hồ Chí Minh yêu cầu các “đợt sóng cao điểm” (những cán bộ cao cấp) phải đến tham dự cuộc Hội nghị Trung ương đảng để báo cáo những đơn vị quân đội di chuyển vào Nam, mỗi khi chiến đấu hay trong những trường hợp khai thác và thiết lập. Tại cuộc họp, Hồ Chí Minh đề nghị tập trung vào việc phát triển quân đội, văn công, thiết lập các chi nhánh dân vận quan trọng khác như nữ hộ lý và dân công.

Ngày 02 tháng 3 năm 1967, Ủy ban Quân sự Trung ương đảng đã tổ chức một cuộc họp những người tham dự cuộc họp là: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, MSS Văn Tiến Dũng, MSS Song Hào. Tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Chính phủ truyền đạt quan điểm của Phạm Hùng, Hồ Chí Minh về vấn đề việc thành lập Quân ủy Trung ương đảng. Gọi đơn giản là “Quân ủy Vietcong” (越共), quyết định thành lập chi nhánh của Quân Ủy Trung Ương miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt.

Ngày 19 tháng 3 năm 1967, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp từ Hà Nội đến thị trấn “Phụng Hưng” hay “lâm kiến hương tiểu ốc” (Bong Lim Chee Heung cabin), liên lạc trường cán bộ quân sự Trung Quốc, đại diện phía Việt Nam, chính phủ nhà nước và quân đội Hồ Chí Minh trưởng phái đoàn. Sau khi đảng của “Hồ Hẹ” xem các đơn vị quân thiện chiến và xin tăng cường quân sự, chiến thuật và kỹ thuật hoàn chỉnh. “Hồ Hẹ” thay mặt “Mao Xếnh Xáng” công bố thành lập Quân uỷ Trung ương đảng “Quân uỷ Vietcong” và tăng cường vũ khí cho quân đội nhân dân Việt Nam, từ đó ngày 19 tháng 3 năm 1967 là ngày truyền thống của quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 24 tháng 3 năm 1967, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Võ Nguyên Giáp đã ban hành về việc thành lập chi nhánh Quân đội “nhân dân Việt Nam” theo Nghị định 12 của “Mao”. Lệnh của quân đội chịu trách nhiệm dưới sự chỉ huy sau đây: (1) Xây dựng các đơn vị quân đội, tăng cường khả thi chiến đấu trên chiến trường (2). Lãnh đạo, chỉ đạo và các đơn vị quân đội trực tiếp dưới sự chỉ huy của các ngành khác nhau của các đơn vị quân sự (3). Quân đội trong cuộc chiến có bổn phận tuân lệnh của trung tâm Quân Ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng là một chiến tướng đầy quyền lực (4). Huấn luyện quân đội, và bổ sung cán bộ.

Huấn lệnh thành lập ban hành đến những tổ chức chuyên ngành trong quân đội Việt Nam và theo đó thực hiện mô hình lực lượng quân đội là việc thành lập và điều chỉnh lữ đoàn 305 công tác để thiết lập các chi đội trong trụ sở quân đội. 126 lực lượng nữa trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu của nhóm 426 và kết hợp trực thuộc quân đội vũ trang trụ sở chỉ huy hải quân. Quân đội nhận lệnh của Bộ Chính Trị, gồm ba cơ quan chính trị và Bộ phận hậu cần (DPA) trực thuộc quyền quản lý của chín tiểu đoàn là: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 10, 20. Mà cũng không di chuyển một tiểu đoàn độc lập đưa vào phụ trách đào tạo quân đội hay phụ trách bởi trại năm năm (5) huấn luyện quân đội.

Ngày 25 tháng 3 năm 1967, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng cùng những nhân vật đứng chung trong “Bộ Chính Trị và Quân uỷ Trung ương”. Đầu tiên Hồ Chí Minh đưa ra 3 nghị định bổ nhiệm vào Quân uỷ Trung ương những người sau đây để làm phong phú thêm cho lực lượng quân đội; Nguyễn Chí Thanh (Ruan Zhi) Bộ Tổng tham mưu Trưởng, chỉ huy trưởng chiến trường, gốc trước đó Sư trưởng Lữ đoàn 305. Đại tá Vũ Chí (Takeshi) Bộ Tổng tham mưu trưởng, Phó giám đốc Cục tình báo. Trung Tá  Nguyễn Đức Trọng (Ruande Zhong) Phó chỉ huy Quân khu 1, 3, 4. Phó chính trị viên Đại tá Vũ Xuân Lộc (Wuchun Lu) được bổ nhiệm làm người đứng đầu tình báo của ba quân khu 1, 3, 4. Đại Tá Nguyễn Phan Lý (Pan Li), bổ nhiệm chức giám đốc hậu cần.

Quân đội Việt Nam vũ trang súng không giựt 82mm, súng cối 60mm, súng chống tăng Tên lửa, phòng không, lựu đạn, súng máy hạng nhẹ, súng trường trinh sát, súng trường bắn tỉa, súng lục, các loại lựu đạn, mìn và những vũ khí hạng nặng khác. Ngoài ra còn có một thiết bị thông tin liên lạc quá đầy đủ, những thiết bị vũ khí trọng yếu hầu hết do Trung Quốc, Liên Xô viện trợ và một phần chiến lợi phẩm từ quân đội VNCH, chất nổ, mìn và các loại tương tự. Trung Quốc, Liên Xô cùng toàn khối Cộng sản đồng minh lớn nhất đứng phía sau rót vũ khí vào miền Bắc Việt Nam, quân đội Việt Cộng hăng hái chiến đấu phía trước. Quân Bắc Việt càng đánh càng hăng say, máu đỏ nhuộm cả dãy Trường Sơn để chứng tỏ anh hùng vô sản nhất thế giới. Trung Cộng vỗ tay hoan hô “tình đồng chí tình anh em”, Việt Cộng quyết chí thi thố đảng vinh quang, khối Cộng sản viện trợ tối đa, vũ khí chiến lược ào ào đưa vào Bắc Việt vô hạn định, tình đoàn kết khích lệ nhau bằng viện trợ vũ khí, thôi thúc Việt Cộng mở ra trang sử Việt Nam nội chiến, tiếp theo chiến tranh Cộng Sản thu về một mối, họ đã chọn Lão Sơn, làm thí điểm thi đua súng đạn thay cho tiếng ca “Hồ-Mao”.

Những lực lượng vũ trang Việt Cộng thay nhau làm quân tiền tuyến bảo vệ tất cả những gì đảng “Bác Hẹ” cướp được. Chẳng hạn quân đội chiến đấu như điên, tuần tra giết từng người một mà không nghe được tiếng động, phần lớn của sự phát triển phù hợp với các yêu cầu của Việt Cộng trên cơ sở súng im lặng được sản xuất súng tiểu liên im lặng, Ball lựu đạn, chiến sĩ rất hoan nghênh bởi chiến trường trên đại lý sân nhà.

Trung Cộng tiết lộ đã viện trợ toàn tập và lớn nhất cho quân đội Việt Cộng từ năm 1961-1975, như trang bị ổn định từ vũ khí, lương thực, đồng phục, giày, mũ nóng, khăn, túi gạo, lương thực khô…, thậm chí tăm xỉa răng, tay súng cá nhân và 40 bệ phóng tên lửa. Mỗi khi Việt Cộng xuất quân hàng trăm ngàn (100.000) vào chiến trường miền Nam qua ngả đường Trường Sơn. Ngân khoản hàng năm là 33 triệu USD. Ngoài ra, quân Trung Cộng còn thay chủ lực Việt Cộng chiến đấu trực diện vào khu quân sự hậu cần của Mỹ:

Trung Cộng tổng kết những cuộc tổng tấn công vào phi trường của VNCH là 311 lần, phá hủy hơn 3.000 loại máy bay, đốt cháy hàng triệu lít xăng, hàng ngàn tấn đạn dược, 10 phi công Mỹ tử trận. Riêng quân Trung Cộng tấn công 16 lần sân bay Tân Sơn Nhất, 14 lần sân bay Phan Thiết, 11 lần sân bay Đà Nẵng, 14 lần sân bay Sóc Trăng, 11 lần sân bay Nha Trang, 6 lần sân bay Anxi, phá hư 25 máy bay, tấn công hơn 100 kho dầu gồm gần 17 triệu lít xăng bị bốc cháy, tấn công 110 lần kho đạn dược, phá hủy hơn 3,87 triệu tấn, phá hủy 771 xe tăng, phá hủy, 326 cây cầu, tiêu diệt 2362 tàu chiến, 11.500 xe tăng và xe bọc thép, những loại pháo 105-175 mm, tên lửa 2161, 42, và radar 53. Đặc biệt tấn công tiểu đoàn 168, lữ đoàn 85 Hoa Kỳ. Các chiến dịch chính với sự tham chiến của Trung Cộng vào Nam Lào trên Quốc lộ 9, những trận chiến tiêu biểu Huế-Đà Nẵng và Thành phố Sài Gòn năm Mậu Thân 1968. Một bất khả bại trong trái tim của Việt Cộng, đặc biệt trong mắt của các lực lượng tôn thờ “Hồ-Mao”, mô tả chiến tranh Việt Nam như là “rừng khỉ, rắn, hang động, vách đá, đồng bằng, thị trấn trên của họ”. Cho nên trong cuộc chiến tranh Việt Nam, các chỉ huy quân sự Mỹ ở West Moran cho rằng, “quân đội Giải phóng Việt Nam, là những con người Mole”.

Trung Cộng muốn chứng tỏ khả năng và sức mạnh để ép Việt Cộng trung thành ‘muôn năm’ như đã hứa. Tăng cường lực lượng quốc phòng di chuyển sư đoàn 313, lữ đoàn pháo binh Quân ED 168 lữ đoàn pháo binh 386, 457 pháo binh Trung đoàn 10, 11 tiểu đoàn trấn thủ biên giới nếu cần chiến đấu hỗ trợ các bộ phận trên. Sự hình thành của pháo binh hạng nặng trong khu vực phong tỏa 20km, dải độ sâu của biên giới giữa Việt Nam-Trung Quốc. Đối với địa hình phức tạp, trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, khi đối mặt với một quốc phòng mạnh mẽ, dưới phong tỏa hỏa lực mạnh của địch vừa tịch thu miền Nam Việt Nam cũng phải dè dặt, Trung Cộng muốn quét sạch quân Việt Cộng chiếm lấy Lão Sơn phải tự xem mình lớn hơn con sư tử giành thịt với con thỏ. Mỗi chiến trường khác nhau, lần này Trung Cộng muốn tự ăn Lão Sơn lãnh thổ của Việt Nam trước nhất “quấy nhiễu hành động khiêu khích”; sư đoàn 313 vốn đã từng kiêu ngạo sau chiến thắng tháng 3 năm 1979 về chiến thuật lưu manh, sư đoàn 313 đã từng sử dụng trên 2.800 khẩu súng pháo các loại bắn phá lãnh thổ Việt Nam tổng cộng 690 lần, giết chết và làm bị thương hơn 3850 người dân ở khu vực biên giới một (1). Quân đội Trung Cộng đe dọa thường xuyên với nhân dân 24 ngôi làng, trong vùng có 5.542 mẫu đất trồng cao su bị cháy, 2.740 mẫu đất nông nghiệp cài mìn không thể trồng trọt, triệt nguồn sống của nhân dân Việt Nam.

Quân đội Trung Cộng có những hành vi phạm tội ác, dấy lên sự phẫn nộ lớn đối với nhân dân ở miền Việt Bắc. Trung Cộng mạnh mẽ thúc giục chính phủ Việt Cộng cho phép họ chiếm lấy vùng núi Lão Sơn, và buộc binh sĩ Việt Cộng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Điều trên nghe qua phi lý nhưng nó là sự thật đang diễn ra tại Lão Sơn.

Tháng 5 năm 1981, quân đoàn 14 và sư đoàn 42 của của Trung Cộng tiến chiếm Khấu Lâm Sơn (koulin Hill). Ngay lập tức tỉnh Côn Minh Quân thiết lập một tiểu đoàn trinh sát tử thủ.

Thiếu Tướng Lưu Xương Hữu (Liu Changyou), Phó chỉ huy quân đoàn 14, một trong 40 quân đoàn  mạnh nhất Trung Cộng. Thời gian trinh sát nông trường Thiên Bảo, huy động trung đoàn trinh sát trực thuộc Đặc Vụ Liên (Te Wulian) làm xương sống kết nối không dây với trưởng trạm Trương Chấn Đông (Zhang Zhendong) phân chia thành phần trinh sát tiểu đoàn, trong tháng 6 năm 1982 đã đi đến chiến trường Lão Sơn bắt đầu hướng vào lãnh thổ Việt Nam. Tiểu đoàn Trinh sát hơn trăm mười người (110), sống dưới chân đồi của các làng xã tại Lão Sơn và nông trường Thiên Bảo (Mary Rose), nhiệm vụ trinh sát của đối phương theo lối chiến đấu. “Tri bỉ tri kỷ giả” (Zhiyizhibi), nắm vững quân tình Việt Nam: biết kẻ thù, biết mình, chỉ có thể đánh bại, trinh sát tiểu đoàn có nhiệm vụ chủ yếu về phòng thủ của đối phương, việc triển khai quân, phân phối pháo binh, lực lượng bậc thang thứ hai phải hiểu rõ chiều sâu của Việt Nam.

Trung đoàn trinh sát của cán bộ và từng người lính vững chắc dựa vào người dân địa phương, sử dụng người dân địa phương làm bia đở đạn, đôi khi ngụy trang cư dân biên giới hay tay săn Lão Sơn, đôi khi ngụy trang như một công nhân Cao Su, một phần đội quân giám sát nằm trên ranh giới Lão Sơn và vị trí đồn trú ở vùng cao nguyên 662,6 là nơi đặc vụ liên lạc, có trách nhiệm quan sát ban đêm. Để nắm được tình hình chính xác hơn, phục kích bắt sống một binh sĩ của đối phương làm tù binh, khai thác bí mật quốc phòng.

Cao điểm 662,6: vị trí xuất phát quân đội Trung Cộng tấn công vào Lão Sơn Việt Nam, một câu hỏi lớn: ai bán vị trí đón quân của Việt Cộng cho Trung Cộng. Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm.
Cao điểm 662,6: vị trí xuất phát quân đội Trung Cộng tấn công vào Lão Sơn Việt Nam, một câu hỏi lớn: ai bán vị trí đón quân của Việt Cộng cho Trung Cộng. Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm.

Trung đoàn trưởng trinh sát đặc biệt 120 người đứng đầu của cuộc phục kích nhóm bẫy trên con đường dẫn đến vị trí 662,6 đỉnh. Tháng sáu trời mưa, muỗi rắn tràn lan. Mỗi người họ từ 4:00 giờ khởi hành, mức đóng cửa bí mật để 662,6 đỉnh núi biên giới, sau khi hoàn thành ngụy trang, lặng lẽ chờ đợi cơ hội, 8:00 sắc nét, tình báo có một khẩu súng tiểu liên đeo Yaotouhuangnao đến 662,6 từ chân đỉnh núi. Các tuyển trạch viên giữ hơi thở của bạn, cảnh giác cao, một số bẫy không thể khởi động. Phải tiếp tục quan sát. Qua quan sát cẩn thận của gần hai tuần, địch khai các trạm quan sát trên đỉnh núi cao 662,6 thể được quan sát lên đến 8km chiều sâu trong mọi hoàn cảnh. Đây là tên tình báo thường xuyên, hàng ngày từ 8:00 đến các trạm quan sát là “Liệu Vọng” (Liao Wang), để quan sát tình hình, cơ hội cuối cùng đã đến.

Một buổi sáng giữa tháng 7, vào lúc 8 giờ 00, thông thường trong nhóm quân quan sát Trung Cộng ngân nga một vài giai điệu “bí ẩn tình yêu” thành ngữ (Yaotouhuangnao) kết hợp với các thành ngữ Akira, khi đọc giọng vang xa “Khuấy bầu trời và trái đất / rung trong gió, lắc đầu, lắc đầu…..”. Một vài phút sau có một quân thám báo Việt Nam, tay súng phục kích vừa đi về hướng tổ phục kích Trung Cộng, họ âm thầm đi qua cách mười mét, địch quân đi khỏi nơi phục kích, có thể được tìm thấy trong các trinh sát của Trung Cộng, anh ta quay lại tiện hướng chạy, khi đó quân TC im lặng hướng dẫn, trên tay súng tiểu liên thẳng hàng trong khi ấy địch quân lánh vào hang đá quân TC, lập tức trinh sát địch quân bị thương, tiến hành công tác đem trở lại bộ phận tiểu đoàn trinh sát của quân TC khai thác. Tên trinh sát la lớn dân quân địa phương “đừng nhầm oan uổng, oan uổng”. Địch giả dân quân địa phương, họ hiểu được phía trước phòng thủ của tình hình quân TC, nhưng quân địch đã bị bắn vào bụng, địch ta qua đời vì vết thương quá nặng.

Trung đoàn trinh sát "Thiên Bảo" của Trung Quốc, phục kích bắt sống một binh sĩ của Việt Nam làm tù binh, khai thác bí mật quốc phòng. Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm.
Trung đoàn trinh sát “Thiên Bảo” của Trung Quốc, phục kích bắt sống một binh sĩ của Việt Nam làm tù binh, khai thác bí mật quốc phòng. Nguồn: Tài liệu ảnh lưu: Huỳnh Tâm.

Đối với một sự hiểu biết chi tiết hơn về phía Việt Nam, các tiểu đoàn trinh sát tiếp tục thực hiện các biên giới phía trước đã bị bắt giữ. Tuy nhiên, lý do tiến về hướng trước thuận tiện bởi vì địch thiếu đội tuần tra ở đây, chúng ta nâng cao cảnh giác, tăng cường tìm mìn của địch, vị trí đi đầu nhìn và thấy thành trì bê tông được xây dựng trên cơ sở nhóm, tiếp tục bảo đảm sửa chữa và gia cố con đường đã đi qua, siêng năng nỗ lực để làm cho nó lớn hơn, mạnh mẽ phù hợp với chiết thuật. Tất cả đội quân cấu thành điểm trụ hàng chục 8-10 mét, sâu và cao, dày một mét và lớn hơn cái hố làm xương sống của các điểm bắn vòng, khi đó có rất nhiều hang động tự nhiên, dự trữ nhiên liệu, đường hầm, tầng hầm và giao thông hào, mương. Công sự, mương và thường sử dụng “X” và “A” cấu hình liên kết, tạo thành một tổng thể có thể tấn công vào các công sự phòng thủ của địch quân. Tất nhiên một điều bất ngờ đã xảy ra với quân đội Trung Cộng về lập công sự đã mang lại những khó khăn lớn hơn. Để hoàn thành nhiệm vụ quân đội đã ở phía trước những tuyển và vị trí phục kích, chiếm “Tùng Mao Lĩnh” (Phyllodoce Ridge) ngay lập tức.

Khí hậu phía Nam tháng 8, mưa phùn sương mù lúc 05 giờ sáng, những cánh quân trinh sát sử dụng sương mù làm lá chắn cho cao điểm 662,6 cũng vừa tầm nhìn thấy vị trí “Mao phong”, nơi đó một cánh cửa bí mật đang đóng kín cách “Mao Tùng Lĩnh” hơn ba mươi mét, đi từ vị trí nơi quân đội trinh sát súng trường bán tự động nhấn cò tiểu đội trinh sát địch chảy máu trên lòng ngực và rất nhiều người bị thương. Sau khi nghe những âm thanh của kẻ thù với súng máy phong tỏa chặt chẽ, lãnh đạo đội tuyển quân TC với một giọng nói yếu ớt: “Các đồng chí ơi, khoái tuyệt đã loại bỏ bọn phỉ Việt, ông ta cho biết thêm chúng sẽ nhất định cung cấp tin tức, đây cũng là lần cuối chúng ta sẽ cho phỉ Việt đi âm ty thăm Hồ Chí Minh”.

Một địch quân Việt Nam, nước mắt đang chảy đầm đìa, miệng mếu máu, đầu gối quỳ bên cạnh người lính TC, cho biết: “Chúng tôi đang tuyệt vọng xin mang theo thương binh xuống núi, chúng tôi bất chấp mọi loạt đạn của quý ông”. Đội trưởng trinh sát TC đồng ý, tỏ vẻ cực kỳ nhân đạo. Người lính trinh sát Việt Cộng vội vã nâng đỡ đồng đội lên vai xuống núi, dù chảy máu quá nhiều vẫn phải ra khỏi ổ phục kích, không ngờ những người lính trinh sát Việt Cộng bị phục kích lần thứ hai, một loạt đạn đưa họ hy sinh vinh quang, một thế giới anh hùng không tên tuổi.

Quay lại quân đội Trung Cộng, họ là những quân nhân được đào tạo quyết tử, máu lạnh nhưng trong người cũng rất sợ chết ham sống, trên chiến trường luôn luôn tính đến một cổ quan tài lớn dù không tìm nó cũng phải đến, khi chết họ được ban bố một bộ đồng phục mới phủ lên một lá cờ danh dự, nước mắt còn lại bị chôn vùi theo ngôn ngữ tử vị đạo “đảng của Mao” trong một nghĩa trang “Ma Lật Pha” và vinh danh liệt sĩ.

Ba tháng sau đó, các trinh sát TC cải trang thành cán bộ Việt Cộng thương nhân dân biên giới, không thể biết được đằng sau lưng dân làng có cả một dòng người kẻ thù, trấn phục dân làng tạo ra mọi sự bất mãn trong lòng dân, trung đội trưởng trinh sát TC cho rằng làm một giả kịch để sau đó có tốp trinh sát mới đến thu phục được dân biên giới. Trinh sát TC đã hiểu biết cùng tận chi tiết về triển khai tổng thể của quân đội Việt Nam.

Năm 1979, Trung đoàn 122 Trung Cộng, có tham dự cuộc chiến với quân Việt Nam tại Cao điểm 1509, gồm pháo binh và một phần của sư đoàn 313, và Sư đoàn 344 bộ binh, theo kết quả của năm 1979 binh đoàn chiến đấu mạnh mẽ, trên đường rút của binh sĩ TC tử thương khá nhiều. Trước nhất trinh sát TC xem Việt Cộng là kẻ thù, hiện nay trước cao điểm 316A có sư đoàn 356 tham gia trận đánh Vị Xuyên bởi viên chỉ huy trực tiếp của quân đội miền Bắc tên Truân. Những năm đầu chưa chiến tranh “tình bạn” nhân dân cả hai quốc gia tại huyện Thanh Thủy (Shimizu), nhận nhau kết hôn thành lập gia đình sống hạnh phúc, sau khi con họ lớn lên, họ phải chiến đấu cho quê nội hay ngoại đều là trớ trêu, trong Lữ đoàn pháo binh 168, có rất nhiều trai Việt kết hôn với gái Hán, đã từng pháo kích về quê ngoại, Trung Quốc cho rằng sứ mệnh thiêng liêng của người lính không phân biệt quê hương nội ngoại.

Chỉ huy trung đoàn 122 thuộc sư đoàn 313 triển khai hai tuyến tại huyện Thanh Thủy. Ấn định theo các bậc thang, đầu tiên từ một hay hai tiểu đoàn, ba tiểu đoàn đến chín, hay mười hai, hai mươi, mỗi trinh sát nhiệm vụ như một trụ cột chiến trường công tác 12 ngày. Tây Nguyên 3 và 6 là địa danh những tiểu đoàn thứ hai thay quân vào ngày 17 tại cao điểm 968 Tây Nguyên.

Trung Cộng tập kết trải quân rộng trên tiểu đoàn 100 tại Tây Nguyên, pháo kéo về phía Đông của khu vực phòng thủ, lập thành hai cấp phòng thủ bao gồm 3 doanh trại 9 binh đoàn tại Nam Lao, khu vực Lãng Bình (Long Ping), trụ sở chính tại Đốn Na, bộ chỉ huy trung đoàn trong Han Ni. Ngày 10, Tiểu đoàn 457 Pháo binh ở khu vực Lãng Bình, 11 trại trong bản Hưng, 168 tiểu đoàn pháo binh. Hỗ trợ trực tiếp của 122 binh đoàn chiến đấu. Tại biên giới Lão Sơn có 266 doanh trại chia thành năm nhóm bốn trại ở vùng núi phía Đông của Bát Lý mang bí số 31, 32, 33, 34. Trung Cộng cố thủ hơn 34 tổ chức bảo vệ Tây Nguyên như vậy.

Chiến lược quân sự của Việt Nam vẫn còn giậm chân tại chỗ “chủ động phòng thủ ” chiến lược quân sự, trong đó chủ yếu bao gồm ba khía cạnh:

1 – Ước tính của môi trường an ninh, Việt Cộng cho rằng những mối đe dọa chính đối với an ninh quốc gia, ba khía cạnh:

(1) – Các nước phương Tây do Mỹ dẫn đầu, việc sử dụng “dân chủ” và “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, Việt Nam là một “diễn biến hòa bình” trong một nỗ lực để dẫn dắt các con đường tư bản:

(2) – Với thế lực thù địch và các nhóm chống chính phủ lại thông đồng với nước ngoài, chờ đợi để xuất quân bạo loạn và phá hoại trong một nỗ lực để lật đổ chế độ Cộng sản ở Việt Nam: Ba là sự tồn tại của một cuộc tranh chấp lãnh thổ với láng giềng, đặt ra một cuộc xung đột vũ trang địa phương, và thậm chí cả sự nguy hiểm của chiến tranh.

2 – Các mục tiêu chiến lược quân sự: để đảm bảo rằng sự ổn định phía Bắc và Tây Nam biên giới, an ninh, sử dụng lợi ích riêng của đảng để trả giá trong quần đảo Trường Sa, đổi lại Trung Cộng để biên giới an ninh và duy trì sự ổn định chính trị trong nước, để tập trung vào phát triển kinh tế và tăng cường lợi ích của các nước lớn để tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam.

3 – Những định hướng chiến lược quân sự: thu nhỏ vị trí phía trước, để mở rộng phạm vi kiểm soát biển và củng cố các tài nguyên trên Quần đảo Nam Sa, và việc thành lập các “khu vực phòng thủ” hệ thống; kiên quyết chống “diễn biến hòa bình.” Ngăn chặn bạo loạn và hoạt động lật đổ chính quyền Việt Cộng.

4 – Chuẩn bị cho chiến tranh: dựa vào sức mạnh kinh tế và quân sự của mình, sẵn sàng đối phó với các vùng biển Nam Sa có thể và quy mô nhỏ xung đột vũ trang ở miền Bắc Việt Nam, khu vực địa phương vùng biên giới phía Tây Bắc.

5 – Kế hoạch chiến lược: tăng cường Lục Hải và cả hai phía Bắc và phía Nam, phía Bắc của sự tập trung của hàng phòng ngự, ở phía Tây Nam và khu vực ven biển Nam Trung Bộ.

6 – Chính sách chiến tranh: để giảm số lượng và nâng cao chất lượng, và thiết lập một “cuộc cách mạng, tiêu chuẩn hóa, tinh nhuệ, hiện đại”, quân đội, trong khi tăng cường lực lượng dự bị.

7 – Lực lượng vũ trang:

Quân đội có 42 triệu binh sĩ, chia thành tám (8) khu vực quân sự, hai DC, có 14 quân đoàn, 58 Sư đoàn bộ binh, hai Sư đoàn bộ binh cơ giới, 10 Lữ đoàn thiết giáp, 15 trung đoàn bộ binh độc lập, một số lực lượng hoạt động đặc biệt (bao gồm cả Trung đoàn không quân, Sư đoàn công binh và nổ mìn về 10 lĩnh vực Lữ đoàn pháo binh, chia 8 công trình, 10-16 bộ phận phát triển kinh tế, 20 Lữ đoàn độc lập công trình.

Xe Tăng:

MBT: T-34 kiểu 45, T-54 / -55 Loại 850, T-62 kiểu 70, DF-59 kiểu 350. PT-76 loại 300, PT-62 / -63 Loại 320. GPMII / -1 / -2 loại 100. Xe chiến đấu bộ binh; GMII loại 300. Xe bọc thép: GTP-40 / -50 / -60 / -152 loại 1100. Súng Traction: 76 mm, 85 mm, 100 mm, 105 mm, 122 mm, 152 mm, 155 mm 2300. Súng OK, 30 152 mm, 100 mm, 120 mm, 122 mm, 175 mm. Rocket: 360 107 mm, 122 mm 350.

Hải quân:

Binh sĩ 42.000 Hải quân và trong đó có 30.000 lính thủy đánh bộ, được chia thành bốn (4) khu vực ven biển. Tàu tuần: tổng số 7,55 tàu tuần tra nhỏ. Bảy tàu đổ bộ, tàu đổ bộ nhỏ 12 tàu đổ bộ cơ giới, tàu đổ giang đĩnh 18 GM.

Không quân:

1,5 triệu binh sĩ trong lực lượng Không quân, có bốn (4) Sư đoàn phòng không, hai (2) nhóm tấn công, 5 nhóm máy bay chiến đấu, máy bay vận chuyển ba (3) trung đoàn, một trung tâm huấn luyện Không quân. Công kích chiến đẩu cơ: Tổng cộng 71 máy bay chiến đấu: MiG-21; trực thăng: 24-24. 12 máy bay trinh sát, 4 hàng hải, 825 loại máy bay trực thăng chống tàu ngầm. Hàng trắc cơ (Aerial Machine): Antonov An-30 loại 2. 68 máy bay vận tải, máy bay trực thăng 70, 52 Huấn luyện viên Không quân.

Lực lượng Quốc phòng 1,5 triệu, vào bốn đơn vị Không quân thuộc quốc phòng, bốn (4) Lữ đoàn pháo binh, sáu (6) Lữ đoàn radar, 66 vị trí phòng không mặt đất: Công kích chiến đấu cơ: lập trình với các tỉnh, chỉ huy quân sự thành phố, quận hạt: mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc quyền quản lý của quân đội đề cập đến một số các nhóm độc lập, mỗi quận thuộc thẩm quyền của quân đội, các cơ sở không số khai thác độc lập. Phương tiện quân sự tỉnh, bộ chỉ huy quân sự tại Bộ Tư lệnh Quân đội Quốc gia tại thủ đô, thành phố, quận quân sự đề cập đến các chỉ huy quân sự tỉnh. Mỗi làng có một ngôi làng công an và dân quân thường biên chế trung đội cho các trại lớn nhất. Bộ binh, kỹ thuật, bảo vệ hóa chất, thông tin liên lạc, trinh sát và các thành phần khác nhau sử dụng vũ khí.

Chiến lược của tập đoàn Việt Công đã đem đến thất bại lớn, theo “Kỷ yếu Thành Đô 1990” còn đó những phê phán của Giang Trạch Dân.

Mối đe dọa lớn nhất đối với Việt Nam tự mình nuôi rắn Hoa Nam (tình báo) trong nhà hay một con kiến “Đỏ” nhỏ ăn mòng đỉnh núi vàng. Điều kiện tự nhiên không ai lo vì mất đất nước này, nhân dân không ngờ trong tiến trính mất nước quá nhanh và quá tinh vi, lần này mất nước không hẹn điểm dừng lại. Nhất định tất cả đều đưa đến thu tóm toàn diện tài nguyên, thu hẹp lãnh thổ, tài sản vật chất quốc gia, tiêu trừ văn hoá dân tộc, và cuối cùng biến Việt Nam trong mục đích ý đồ Hán hóa của Trung Cộng. Thời đại công thức thực hiện nô lệ mới trải dài trong chế độ khu tự trị hoá. Việt Nam sẽ ở trong trường hợp tự trị thuộc địa sau đó tự trị liên bang và hoàn toàn mất nước. [1]

Đau buồn nhất cho đất nước Việt Nam không phải sinh ra để Trung Cộng cai trị đã ngàn năm (1000) đô hộ giặc Tàu, trăm năm (100) giặc Pháp, năm (5) năm giặc Nhật, nội chiến 25 năm. “Hồ Chí Minh cho rằng Việt Nam đã từng ấy chưa đủ ô nhục vì thế Bác hứa hẹn 10.000 năm để cho Việt Nam chui vào ý đồ Hán hóa của Bác Mao” [2]. Thế kỷ 21 điểm hẹn 2020 vào tự trị An Nam Khu của Trung Quốc. Ngày nay Việt Nam muốn tồn tại phải biết trang bị cho chính mình những khả năng và sức mạnh độc lập.

Huỳnh Tâm

Advertisements

2 cảm nghĩ về “TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN BÍ MẬT THÀNH ĐÔ 1990 – KỲ 15”

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s