TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN BÍ MẬT THÀNH ĐÔ 1990 – KỲ 17

Kết quả Việt Nam thu hẹp lãnh thổ và lãnh hải.

Ngày 22 tháng 2 đến ngày 25 tháng 3 năm 1994. Nhóm làm việc chung biên giới đất liền và phân chia các nhóm làm việc chung Vịnh Bắc Bộ đã tổ chức một vòng đàm phán đầu tiên ở thủ đô Hà Nội Việt Nam.

Kể từ đó, các cuộc đàm phán biên giới đất liền Việt-Trung bước vào một giai đoạn của việc giải quyết các vấn đề cụ thể.

Các biên giới đất liền, quá đơn giản. Như đã được phân định, có một hiệp ước cũ làm cơ sở. Tuy nhiên, nói phức tạp và phức tạp ở khâu nhân sự cắm cột móc. Thông tin về các văn bản và con số này được ước sai lầm vì lý do Trung Cộng thừa dịp này phịa yếu tố con người và thiên nhiên để lấy thêm đất liền tại biên giới của Việt Nam, dẫn đến một số khác biệt về đường biên giới giữa hai nước đối với sự hiểu biết về những tranh cãi không đúng theo kết quả trên hiệp ước.

Những tranh chấp này, trong thực tế phản ánh lợi ích của cả hai bên trong cuộc xung đột, cả hai lợi ích quốc gia, mà còn liên quan đến lợi ích sống còn sản xuất và đời sống của biên giới. Theo hiệp ước qui định tại biên giới của hai quốc gia có một mảnh đất nhỏ không được sản xuất hay lập khu quân sự đất bỏ hoang, nhưng khi Trung Cộng viện cớ những vùng đất này là nguồn gốc của khẩu phần sinh kế các hộ gia đình làng nằm trên biên giới. Thực chất phía Trung Cộng muốn vùng đất này được dân Trung Quốc tự do xâm canh ngoài hiệp ước, trái với luật biên giới quốc tế ấn định.

Trong biên giới đất liền nhóm công tác chung của vòng đàm phán thứ hai, hai bên thông qua việc trao đổi đường biên giới đất theo dữ liệu bản đồ, hai bên đồng thuận và công nhận khu vực biên giới đất liền không phù hợp tổng số 289 km, liên quan đến diện tích khoảng 233 km², trong đó do lý do kỹ thuật vẽ bản đồ phía Trung Cộng Tổng cộng hơn 125 km² mâu thuẫn liên quan đến khu vực rất lớn, và còn chên lệch thêm 6 km², và cả hai bên trong các khu vực tranh chấp đạt 164 kiểm tra. Với tổng diện tích 227 km². Các khu vực biên giới tranh chấp, chủ yếu liên quan đến lợi ích thực sự, và nó rất khó khăn cho cuộc thương thuyết hòa giải. Trong việc kiểm tra các đường biên giới với quá trình,Trung Cộng đưa ra ba đề nghị cho phía Việt Nam.

Thứ nhất, Pháp và nhà Thanh đã xác nhận về sự phát triển phù hợp với quy định của biên giới hay việc phân định theo các văn bản và đã dựng lên bản đồ, và theo quy định của pháp luật của những trụ cột được dựa trên thông qua tất cả về phía đường biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Thứ hai, sau khi kiểm tra chéo là vẫn không thể đồng ý về các dòng và cột vị trí ranh giới được biết đến nhiều, hai bên sẽ cùng tiến hành khảo sát thực địa, xem xét sự hiện diện của một loạt các tình huống trong khu vực, phù hợp với tinh thần hiểu biết lẫn nhau và tham vấn thân thiện, tìm kiếm giải pháp công bằng và hợp lý.

Thứ ba, sau khi đường biên giới đã được phê duyệt, khu vực biên giới thuộc thẩm quyền nhiều hơn một bên, bên kia phải được trả lại vô điều kiện về nguyên tắc, mà trong một số lĩnh vực, từ quản lý biên giới tạo điều kiện cho sự ra đi, bởi hai bên thông qua tham vấn thân thiện, tinh thần hiểu biết lẫn nhau, tinh thần công bằng và hợp lý để có điều chỉnh thích hợp.

Kể từ sau đó, biên giới đất liền nhóm làm việc chung đã bỏ ra hơn hai năm, 164 lần kiểm tra đối với các đường biên giới trong khu vực tranh chấp.

Tháng 7 năm 1997, BCT/BCH TƯ Việt Cộng Tổng Bí thư Đỗ Mười, chuyến thăm Trung Quốc, Giang Trạch Dân hội nghị đã đạt được sự đồng thuận quan trọng, yêu cầu hai bên thương lượng nhân viên tích cực phấn đấu cho năm 2000, hai nước đã ký kết một “hiệp ước biên giới trên đất liền”.

Tháng 2 năm 1999, BCT/BCH TƯ Việt Cộng Tổng Thư ký mời Lê Kha Phiêu thăm Trung Quốc. Ông đã nói với Chủ tịch Giang Trạch Dân. Hai nhà lãnh đạo đã xác định phương châm “16 kim tự” của sự phát triển của mối quan hệ song phương, cụ thể là, “sự ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng tốt hữu nghị và hợp tác toàn diện”, thiết lập quan hệ song phương trong thế kỷ 21 vào khuôn khổ phát triển.

Cả hai bên đã đồng ý rằng một giải quyết sớm vấn đề biên giới giữa hai nước phù hợp với lợi ích căn bản và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước. Hai bên quyết tâm đẩy nhanh quá trình đàm phán, nâng cao hiệu quả công việc, ký kết một hiệp ước biên giới đất liền vào năm 1999, việc xây dựng đường biên giới chung giữa hai nước trở thành biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn định.

Hai bên cũng đã giải quyết vấn đề biên giới đất liền và đạt được sự đồng thuận quan trọng sinh sống lâu dài của người dân, và tôn trọng hai điều kiện của thường dân cần đến là sản xuất và đời sống, không phải vì việc phân định biên giới giữa hai nước gây ra một cú sốc lớn.

Hai sự đồng thuận đạt được của các nhà lãnh đạo của Trung Quốc và Việt Nam, như đàm phán biên giới đất liền Việt Nam đã cung cấp một hỗ trợ chính trị đáng tin cậy, một động lực mạnh mẽ cho quá trình đàm phán.

Theo sự nhất trí của lãnh đạo hai nước, Việt Nam quyết tâm tập trung vào việc thúc đẩy các cuộc đàm phán tiếp cận thực dụng với Trung Quốc để giải quyết các vấn đề khu vực biên giới đất liền đã từng tranh chấp, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến lợi ích trước mắt của biên giới.

Tháng 5 năm 1999, Trung Cộng công bố những vấn đề dữ liệu các cuộc đàm phán biên giới đất liền với Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm. Trong bức thư, Trung Cộng bày tỏ hy vọng rằng phía Việt Nam với sự nhất trí của các nhà lãnh đạo hàng đầu của hai nước, từ tình hình tổng thể, tiến hành trên lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, trong thực tế và thân thiện, phản ánh đầy đủ sự chân thành, đưa các khu vực tranh chấp còn lại vào giải pháp đúng cách giải quyết các vấn đề sản xuất và đời sống biên giới của nhân dân, hai bên trên các đường ranh giới cho tất cả các thoả thuận về khu vực tranh chấp, các nhà lãnh đạo của cả hai quốc gia để đảm bảo rằng trong các cuộc đàm phán biên giới đất liền để kịp cuối kỳ theo quy định việc ký kết các hiệp ước biên giới trên đất liền Trung-Việt.

Trung cộng đề nghị hai bên về lịch sử của khu vực không gây tranh cãi này, cần được xác nhận một cách thực dụng, mà không làm tăng sự khác biệt giữa hai nước không thay đổi các chính phủ trước đó được công nhận đường biên giới; cho các khu vực tranh chấp, theo đúng thỏa thuận, theo quy định của trụ cột Pháp-Thanh và số liệu về thực hiện theo ngành công nghiệp về các quy định, để xác định đường biên giới; liên quan đến khu vực dân cư, theo đúng với sự đồng thuận quan trọng đạt được của các nhà lãnh đạo của hai nước, tôn trọng dân thường trú hai phía, điều kiện sản xuất và đời sống, không phải vì phân giới cắm mốc gây ra cú sốc lớn.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm nhanh chóng trả lời. Ông nhắc lại quyết tâm của phía Việt Nam để giải quyết các vấn đề biên giới đất liền, và tôi đồng ý với ý kiến ​​về mạnh mẽ thúc đẩy các cuộc đàm phán biên giới đất liền. Ông đề nghị hai bên cần phải dựa trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau, trong việc xem xét đầy đủ các yếu tố khác nhau và lợi ích hợp pháp của các bên trong chủ quyền, lịch sử, địa hình, nhu cầu về thẩm quyền, cuộc sống biên giới quốc gia và các cơ sở cho việc bảo trì trong tương lai của sự ổn định trong khu vực biên giới, sớm thu nhỏ sự khác nhau, để tìm kiếm một giải pháp đôi bên cùng có thể chấp nhận được.

Theo sự nhất trí của cả hai bên, tôi hướng dẫn cho các nhà đàm phán của Trung Quốc trong các cuộc đàm phán phải tìm kiếm sự thật từ những sự kiện, giải thích đầy đủ các cơ sở pháp lý để tìm kiếm một giải pháp công bằng và hợp lý.

Ngày 25 tháng 7 năm 1999 để tham dự các cuộc họp ASEAN và APEC (APEC) họp ngày 11 tháng 9, Ngoại trưởng Trung Cộng Tiền Kỳ Tham đã gặp hai lần với Phó Thủ tướng Việt Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm. Trong thảo luận về các vấn đề khu vực và quốc tế sang một bên, Tiền Kỳ Tham nắm bắt cơ hội để đẩy nhanh việc đàm phán đã làm được một số công việc.

Ngày 11 tháng 9, Tiền Kỳ Tham đã gặp anh Nguyễn Mạnh Cầm ở Oakland ông đề xuất để giải quyết các vấn đề của khu vực tranh chấp phải được thực tế, Việt Nam đang tích cực xem xét đề nghị phản ánh sự cân bằng lợi ích của cả hai giải pháp tổng thể chung, hai bên có thể đạt được một sự hiểu biết về vấn đề này, để hướng dẫn nhóm làm việc chung biên giới đất liền công tác. Tiền Kỳ Tham cũng đã làm cho nó rõ ràng rằng các nhà đàm phán hy vọng phía Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh sự đồng thuận quan trọng đã đạt được giữa hai bên để giải quyết các vấn đề khu định cư đạt thư ký.

Nguyễn Mạnh Cầm cho biết phía Việt Nam hiểu được quan điểm của Trung Quốc, và sẵn sàng những nỗ lực lớn hơn để tìm một giải pháp cho vấn đề.

Sau khi cấp ngoại trưởng, người đứng đầu phái đoàn chính phủ, các nhóm làm việc chung và đàm phán chuyên gia liên tục ở tất cả các cấp độ để làm việc, và cuối cùng ngày 20-28 tháng Ngày 10 năm 1999 đứng đầu phái đoàn chính phủ Việt Nam lâm thời đã gặp tại Bắc Kinh, rõ ràng Tiền Kỳ Tham chấp nhận các đề xuất cân bằng lợi ích của cả hai, nói chung và ý tưởng về một giải pháp trọn gói.

Kể từ đó, hai bên trong các cuộc đàm phán đã đóng gói các giải pháp, bao gồm cả giải pháp nhạy cảm và khó khăn cho các vấn đề, và điều này đạt đến một thỏa thuận sơ bộ để làm cho cuộc đàm phán biên giới đất liền Việt Nam để đạt được một bước đột phá. Sau khi đàm phán cứng rắn của hai bên trong hơn một tháng, dòng cuối cùng trong khu vực tranh chấp trên biên giới hai phía hoàn toàn đồng ý.

Kể từ đó, hai bên cũng đã đàm phán một nhóm làm việc chung và các nhóm công tác soạn thảo hiệp ước, đặt tất cả năng lưc của mình vào hồ sơ cùng các kết quả của các cuộc đàm phán và soạn thảo các công ước biên giới trên đất.

Kể từ đó, hai bên đàm phán các nhân viên trong vòng 20 ngày, ở gần hợp tác, cả ngày lẫn đêm, những thỏa thuận cuối cùng về biên giới đất liền và trên bảng cho tất cả các điều khoản của dự thảo ranh giới hiệp ước, và hoàn thành các văn bản điều ước quốc tế và bản vẽ sản xuất.

Trước khi ký kết chính thức hiệp ước, hiệp ước được ký tắt hai bên đã tổ chức một buổi lễ. Bộ Trưởng Ngoại Giao cả hai bên thỏa thuận cần mỗi trang của văn bản và bản đồ được ký tên của mỗi người, chữ ký của các văn bản hiệp ước có con dấu chứng nhận. Do số lượng lớn các bản đồ hiệp ước được ký kết bởi chỉ ký tên vào nó trong một giờ.

Ngày 30 tháng 12 năm 1999, trong thế kỷ mới đang đến gần, Tiền Kỳ Tham đến Hà Nội để tham dự “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các hiệp ước biên giới đất liền nước CHXHCN Việt Nam”, lễ ký kết.

Lễ ký kết được tổ chức vào buổi tối của ngày 30 tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Việt Nam. Tiền Kỳ Tham và Phó Thủ tướng Việt Nam Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đại diện cho Trung Quốc và Việt Nam đã ký “Hiệp ước biên giới đất liền Trung-Việt”.

Tại lễ ký kết, Tiền Kỳ Tham đã thực hiện một bài phát biểu ngắn. Chính thức ký kết “Hiệp ước biên giới trên đất liền Trung-Việt”, đánh dấu hai bên biên giới vùng đất thanh bình, thân thiện và ổn định vào thế kỷ 21, không chỉ sẽ hưởng lợi trực tiếp cho người dân các tỉnh biên giới, mà còn thúc đẩy hai bên quan hệ nhà nước và thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa hai nước trong các lĩnh vực khác nhau, và thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực, có tầm quan trọng rất lớn.

Ngày 29 tháng 4 năm 2000, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thứ 9 của nhân dân Trung Quốc, Đại hội đã thông qua một nghị quyết thứ mười (10) phê duyệt “Hiệp ước biên giới trên đất Trung-Việt”; cùng năm vào ngày 09 tháng 6, Đại hội lần thứ X họp thứ bảy (7) Việt Nam cũng Độ phân giải được chấp thuận hiệp ước này.

Ngày 06 tháng 7 năm 2000, Trung Quốc và Việt Nam đã tổ chức một “hiệp ước biên giới trên đất Trung-Việt” ở Bắc Kinh trao đổi trong cuộc lễ phê chuẩn. Như vậy, “Hiệp ước biên giới trên đất” có hiệu lực.

Tháng 11 năm 2000, Trung Quốc và Việt Nam theo quy định của “Hiệp ước biên giới đất liền” trong các cuộc đàm phán biên giới giữa hai quốc gia thuộc các phái đoàn chính phủ thành lập một ủy ban phân giới cắm mốc. Đến cuối năm 2008, để hoàn thành tất cả các công việc trong các lĩnh vực ranh giới được dựng lên. Để kết thúc, hai bên đã trải qua tám năm.

Phân định Biển Đông lần đầu tiên của Trung Quốc

Kể từ khi bắt đầu các cuộc đàm phán biên giới, các cuộc đàm phán biên giới đất liền và các cuộc đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ đã được tiến hành cùng một lúc. Trước đây, Trung Quốc đã ký kết các hiệp ước biên giới trên đất hoặc thỏa thuận với hàng chục quốc gia thương lượng đàm phán biên giới đất liền, chúng tôi đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm. Nhưng đàm phán phân định Biển Đông là một chủ đề mới cho ngoại giao của Trung Quốc. Vì vậy, trong các cuộc đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ là một thực tế chưa từng có.

Trong các cuộc đàm phán phân định ranh giới phía Vịnh Bắc Bộ, đã có rất nhiều khó khăn và thất bại, tất cả các bước cần phải trả giá rất nhiều công việc khó khăn.

Đàm phán sớm, không khí vẫn còn tốt. Tuy nhiên, khi các cuộc đàm phán bước vào một giai đoạn nội dung, vị trí truyền thống của phe đối lập giữa các bên, thì thực tế về xung đột lợi ích dần dần nổi bật.

Trong “các nguyên tắc cơ bản của thỏa thuận” đã được ký kết, phân định Vịnh Bắc Bộ và Nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam vừa bước vào vòng đàm phán thứ hai, họ gặp khó khăn.

Tháng 8 năm 1994, trong vòng hai của cuộc đàm phán biên giới cấp Chính phủ, Trung Quốc và Việt Nam xung đột trên Biển Đông trở nên rất nổi bật.

Trung Quốc ban đầu nghĩ rằng hai bên đã đạt được một “thỏa thuận cơ bản về nguyên tắc” và tung ra một nhóm làm việc chung phân định Vịnh Bắc Bộ theo cuộc đàm phán, hai bên đụng độ tại vùng Vịnh Bắc Bộ có thể bị giảm bớt hoặc tránh những căng thẳng vùng Vịnh Bắc Bộ sẽ dần dần giảm bớt.

Bất ngờ bán nước quá nhanh.

Sau khi các nhóm Trung-Việt làm việc chung, bắt đầu cuộc đàm phán Vịnh Bắc Bộ, trong khoảng sáu (6) tháng, các bên trong cuộc xung đột ở Vịnh Bắc Bộ tăng, và có xu hướng ngày càng tăng. Trong sáu (6) tháng trôi qua, phía Việt Nam để tăng cường và mở rộng thẩm quyền xét xử thực tế của các vùng biển tranh chấp ở Vịnh Bắc Bộ, thực sự từ chối quyền của ngư dân truyền thống của Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ, cố gắng để tạo ra buổi lễ ký kết.

Trước khi các cuộc đàm phán đang tiến hành, Tiền Kỳ Tham gọi các nhóm đàm phán của Trung Quốc, để thực hiện một phân tích cẩn thận về tình hình và nghiên cứu.

Tại thời điểm đó, trong vùng Vịnh Bắc Bộ, các lực lượng hải quân Trung Quốc không phải là yếu hơn so với kiểm soát thực tế của các bên. Miễn là chúng ta chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp quốc tế, “Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển” và “Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản” đã được ký kết giữa hai bên, Trung Quốc tự tin và sự kiên nhẫn của Việt Nam, trong thời gian qua, sẽ thuyết phục người Việt Nam trở lại đúng con đường đàm phán đã định.

Vấn đề khó khăn như ngư trường truyền thống liên tục chứ không phải Trung Quốc cướp ngư trường Vịnh Bắc Bộ và vấn đề đánh bắt cá của Việt Nam. Do vấn đề này liên quan đến lợi ích sống còn của các ngư dân Trung Quốc cần phải được giải quyết càng sớm càng tốt.

Tiền Kỳ Tham hy vọng rằng, trong hai bên có thể ngồi xuống và nói chuyện, để giải quyết vấn đề này. Trong các cuộc đàm phán đã đi trước. Đầu tháng 8 có một chuyến đi đặc biệt của Tiền Kỳ Tham đến Hải Nam nghe của Thống đốc tỉnh Hải Nam, khi ý kiến ​​của Nguyễn Sùng Vũ (Ruan Chongwu) vào các cuộc đàm phán phân định biển Vịnh Bắc Bộ. Trong khi chờ đợi, Tiền Kỳ Tham đã đi đến bờ biển Vịnh Bắc Bộ, nhằm tiến hành điều tra thực địa, tại Thị trấn Quỳnh Hải (Qionghai) và các hồ sơ tham khảo tạm thời cửa Lâu Trấn (Louzhen), Tiền Kỳ Tham đến thăm từng ngôi nhà của ngư dân, và lên tàu tại cảng đánh cá, ngư dân đã trực tiếp lắng nghe họ về tình hình ở phía Vịnh Bắc Bộ ngư trường truyền thống cho các hoạt động sản xuất thế hệ và ngư trường truyền thống của họ gần đây đánh cá đã được can thiệp nghiêm trọng với sự thật.

Tiền Kỳ Tham đứng tại cảng cá, nhìn cách nuôi cá và rất nhiều tàu thuyền đánh cá chưa ra khơi, bởi ranh giới lãnh hải và quan hệ nhà nước chưa tạo điều kiện, khó khăn hơn về nhưng với lợi ích liên quan chặt chẽ đến vấn đề ngư nghiệp. Là một nhà ngoại giao, đến cơ sở, để hiểu đời sống của người dân, để hiểu rõ tình hình thực tế, để thực sự biết trách nhiệm trên vai của mình, và lợi ích của nhân dân và công tác ngoại giao chặt chẽ với nhau, nhà nước rất tin tưởng và nhân dân trong các cuộc đàm phán của nhà nước. Trong ngắn hạn, ngoại giao phải được cải thiện sinh kế của người dân, duy trì các dịch vụ ổn định xã hội.

Ngày 15-18 tháng Tám 1994, trong vòng hai của cuộc đàm phán biên giới cấp Chính phủ, chính thức được tổ chức tại Hà Nội. Tiền Kỳ Tham và phái đoàn chính phủ Trung Quốc đã tham gia vào các cuộc đàm phán.

Thứ trưởng Việt Nam Vũ Khoan chủ trì cuộc họp và phát biểu đầu tiên. Ông xây dựng trên khu đất giáp Vịnh Bắc Bộ Việt Nam xác định ranh giới và vị trí và quan điểm về vấn đề Biển Đông, sự tiến bộ của hai bên của các cuộc đàm phán biên giới đất liền giá quá cao.

Sau đó, Tiền Kỳ Tham thực hiện một bài phát biểu dài, nói chuyện tập trung vào Trung Quốc phân định Vịnh Bắc Bộ và vị trí đánh bắt cá. Lần đầu tiên Tiền Kỳ Tham biết Vũ Khoan đã đồng ý có tiến bộ đánh giá của biên giới đất liền, lưu ý rằng, để duy trì một cuộc đàm phán biên giới bầu không khí tốt, trước khi quyết toán, hai bên cần tuân thủ nghiêm ngặt liên quan đến việc ký kết Hiệp định theo ranh giới của “Hiệp định tạm thời” các quy định về thẩm quyền của tình hình, hai bên cần tăng cường cấp chính phủ và các ban ngành địa phương có liên quan hướng dẫn các nhân viên và biên giới.

Sau đó, Tiền Kỳ Tham đặt ra các quyền đánh cá truyền thống của ngư dân Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ từ, pháp lý, quan hệ quốc tế lịch sử và quan điểm thực tế tình hình Trung Quốc, tỉnh Quảng Tây, Hải Nam và Quảng Đông gần 1,38 triệu ngư dân, các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền đánh bắt cá đời sống của ngư dân và ổn định xã hội.

Tiền Kỳ Tham nghiêm tuyên bố với phía Việt Nam: “trước khi hai bên đạt được một thỏa thuận về việc phân chia Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam nên tôn trọng các ngư dân Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ, bao gồm cả các quyền đánh cá truyền thống trong vùng biển tranh chấp. Chính phủ Trung Quốc sẽ không tha thứ cho các tàu vũ trang Việt cướp ngư dân Trung Quốc đánh cá và các sự cố”.

Tiền Kỳ Tham lưu ý rằng các cuộc đàm phán chia phía Vịnh Bắc Bộ, các quyền đánh cá truyền thống của ngư dân Trung Quốc là một trong những yếu tố quan trọng cần phải được xem xét phân định công bằng. Hơn nữa, việc phân chia Vịnh Bắc Bộ theo cuộc đàm phán, và sự cần thiết phải đưa ra để mua một hình thức pháp lý cho ngư dân Trung Quốc hoàn thành điều này đúng, sắp xếp phù hợp cho hợp tác song phương trong nghề đánh bắt cá sau khi phân định Vịnh Bắc Bộ.

Ngày 18, Tiền Kỳ Tham tham khảo ý kiến mở rộng ​​với Vũ Khoan một lần nữa, về quan hệ song phương và các vấn đề khu vực quốc tế trao đổi quan điểm. Sau khi các cuộc đàm phán chính thức, giọng điệu của bạn bè (MSS) của tôi một lần nữa nhắc nhở cá nhân Vũ Khoan, muốn duy trì hòa bình Vịnh Bắc Bộ là rất quan trọng cho sự phát triển của cuộc đàm phán biên giới và các mối quan hệ song phương, chúng ta phải xử lý đúng đắn các vấn đề có liên quan.

Trong chuyến thăm này, tôi cũng đã gặp gỡ với Chủ tịch Việt Nam Lê Đức Anh và Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm. Mời Chủ tịch Lê Đức Anh đi cùng Tiền Kỳ Tham thăm Trung Quốc, Lê Đức Anh thay mặt những nhà lãnh đạo Việt Nam nhờ Tiền Kỳ Tham truyền đạt lời chúc “Tình đồng chí và tinh anh em” đến Chủ tịch Giang Trạch Dân.

Trong chuyến thăm lần này Lê Đức Anh tuyên bố rằng: “Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng cơ bản trong hệ thống xã hội, các chính sách hiện hành, Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và các thành phần của mức độ cao của tính nhất quán trong việc phát triển quan hệ hữu nghị với những vấn đề Trung Quốc, càng có nhiều mối quan hệ có thể chơi được, không giảm. Về vấn đề này, các nhà lãnh đạo Việt Nam có quyết tâm và sự tự tin”.

Đến nay vẫn chưa thấy Bộ Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm hay Vũ Khoan đi thực tế, thăm viếng nhân dân tại Vịnh Bắc Bộ như Tiền Kỳ Tham thăm ngư dân Trung Quốc tại ba tỉnh Quảng Tây, Hải Nam và Quảng Đông. Nói về Lê Đức Anh tuyên bố như trên không khác lời lẽ của kẻ bán nước.

Việt Cộng bí mật xác định Biển Đông của Trung Cộng.

Ngày 13 tháng 7 năm 1995, tại vòng ba của các cuộc đàm phán biên giới cấp Chính phủ chính thức được tổ chức tại “Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán” Bắc Kinh (Diaoyutai State Guesthouse). Theo chủ nhà, Tiền Kỳ Tham đã chủ trì các cuộc đàm phán. Cuộc đàm phán ngay từ đầu tuyên bố: – Từ quan điểm của lịch sử, thực tế và luật pháp của một toàn diện, sâu sắc, trình bày có hệ thống các quan điểm của Trung Quốc về vấn đề phân định mở rộng (lấn biển) Vịnh Bắc Bộ.

Tiền Kỳ Tham chỉ ra rằng kể từ khi “nguyên tắc cơ bản của thỏa thuận” ký đơn phương mở rộng sự kiểm soát của Vịnh Bắc Bộ, công bố đấu thầu ở khu vực giữa của vùng Vịnh Bắc Bộ, trong vùng biển truyền thống của miền Vịnh Bắc Bộ, ngư dân Trung Quốc, cướp biển hoạt động bình thường trong cuộc sống và an toàn tài sản của ngư dân Trung Quốc, để đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng về đánh cá. Việt Nam được chia lại vùng Vịnh Bắc Bộ thành các Nhóm công tác chung. Vòng đàm phán thứ năm chủ yến thảo luận kinh độ 108 độ 3 phút 13 giây-line đứng phía sau, Trung Quốc rất quan tâm về vấn đề này.

Tiền Kỳ Tham kêu gọi:

– Việt Nam thể hiện sự chân thành và đúng cách xử lý thủy sản song phương ở phía Bắc Vịnh Bộ, tranh chấp thông qua đàm phán để trở về con đường phân chia Vịnh Bắc Bộ.

Hãy nghe những lời của tôi.

Vũ Khoan cho rằng:

– Việt Nam đã ký kết vào năm 1993, “các nguyên tắc cơ bản của thỏa thuận” với Trung Quốc, trên thực tế, phá vỡ sự bế tắc giữa hai nước trong những năm 1970 tại vùng Vịnh Bắc Bộ về vấn đề phân chia lãnh hải. Ông mời phía Trung Quốc tin rằng Việt Nam sẽ không đi ngược, nó sẽ không quay trở lại. Về vấn đề này, có một quyết tâm của các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Trong vòng đàm phán gần đây, các thành viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Lý Lam Thanh gặp Vũ Khoan thảo luận: Chúng tôi cũng đã thu xếp đến Sơn Đông, xin Vũ Khoan đề cập rộng rãi.

Sau khi trở về Bắc Kinh từ Sơn Đông, Vũ Khoan nói với Tiền Kỳ Tham rằng: “ông đã đến thăm quê hương của Khổng Tử ở Khúc Phụ (Qufu), Sơn Đông phát triển đã để lại một ấn tượng rất sâu sắc. Sau khi trở về nhà, Vũ Khoan cũng xuất bản dưới bút danh “thăm quê của Khổng Tử” (phóng khổng tử gia hương- vũ khoan), một tờ báo xuất bản tại Việt Nam, “Tuần lễ Quốc tế” (Quốc tế chu khan) trên bài báo nói, càng “cộng sự cũ đã được bắt rễ sâu trong đất màu mỡ của lịch sử, các thế hệ tương lai không có lý do để không làm cho nó bắt rễ sâu xa hơn”. (tích nhật chi liên hệ dĩ thâm thâm trát căn vu lịch sử ốc thổ chi trung, kim hậu thế thế đại đại một hữu lí do bất sử tha canh gia căn thâm hiệp mậu)

Sau chuyến đi của Vũ Khoan:

– Ông ta đồng ý, Việt Nam chấp nhận chia lại Vịnh Bắc Bộ, từ lúc này không còn tranh cãi.

Cho đến tháng 11 năm 1995, Tổng Bí thư Đỗ Mười, thăm Trung Quốc ông đưa ra một kết luận thỏa đáng làm Bắc Kinh hài quá lòng:

“- Trong chuyến thăm này, hai nhà lãnh đạo tái khẳng định nguyên tắc trên cơ sở các cuộc họp trước đó giữa hai bên lên đến đỉnh, tinh thần của tình hình chung, sự hiểu biết lẫn nhau, công bằng, hợp lý và trong tinh thần hiệp thương hữu nghị, phù hợp với luật pháp quốc tế, có sự tham khảo thông lệ quốc tế, thông qua đàm phán hòa bình, giải pháp thích hợp vấn đề biên giới giữa hai nước còn tồn tại. Hai nhà lãnh đạo nhất trí thúc đẩy song phương vượt quá khác biệt quá khứ, kể từ cuối những năm 1970, những tranh cãi liên quan đến việc phân định Vịnh Bắc Bộ mở rộng (lấn biển), thành lập các khuôn khổ chính trị và chỉ đạo của cả hai bên trong suốt những nỗ lực đàm phán để thúc đẩy trên đường đua theo những cuộc đàm phán biên giới Trung-Việt” (bán nước).

Ngày 14 tháng 2 năm 1996, Tiền Kỳ Tham đi thăm Việt Nam đến biên giới Bằng Tường với các hội đồng tỉnh Quảng Tây và Việt Nam, ông tham gia trong việc cử hành lễ khai mạc của sự phục hồi đường sắt của Bằng Tường Trung Quốc và Việt Nam với hội đồng quản trị tổ chức một buổi lễ thân không thiện.

Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Vũ Khoan phát biểu:

– Cả hai bên đều khẳng định vai trò quan trọng của tỉnh Quảng Tây và Việt Nam, cho thấy Việt Nam là một tỉnh của Trung Quốc trên mặt ngoại giao quan hệ song phương hai tỉnh. Trong lịch sử của đường sắt Trung Quốc hỗ trợ chiến tranh cho Việt Nam. Cả hai bên đã đồng ý rằng sự phát triển của mở rộng lần này có mối quan hệ giữa Quảng Tây và Việt Nam mở ra một tương lai hứa hẹn chung sống.

Sau lễ khai mạc, Vũ Khoan mời Tiền Kỳ Tham đi thăm Lạng Sơn Việt Nam để tham vấn về quan hệ song phương và vấn đề biên giới.

Đây là lần thứ hai Tiền Kỳ Tham đến Lạng Sơn. Chỉ cách nhau hơn một năm, nhờ sự phát triển thương mại của những thành phố biên giới Trung-Việt, đã diễn ra thay đổi bành trướng lớn mạnh, các cửa hàng thành hình một thị trường mới sinh động hơn. Có rất nhiều biển quảng cáo trên đường phố được viết bằng tiếng Trung Quốc.

Tiền Kỳ Tham hẹn gặp Vũ Khoan tại khách sạn Kim Sơn Thành phố Lạng Sơn, tham khảo lại phân định Vịnh Bắc Bộ mà đàm phán bị đình trệ với của các nhóm công tác liên ngành đưa ra ba đề xuất: Trước tiên, các cuộc đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ có thể đạt được bởi các nhà lãnh đạo xem xét tình hình chung của hai nước, sự hiểu biết lẫn nhau, bình đẳng, hiệp thương hữu nghị, “sự đồng thuận là tư tưởng chỉ đạo, trong năm 1993, hai bên đã ký “Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản” như một cơ sở pháp lý. Thứ hai, cả hai bên cần tiếp tục trao đổi quan điểm về các cơ sở ý tưởng của họ đưa ra đường lối và các yếu tố khác nhau có liên quan. Trung Quốc sẽ đưa ra những ý tưởng riêng của họ theo kịp dòng thời gian. Thứ ba, hai bên cần đạt được một sự hiểu biết nội bộ về các nguyên tắc công bằng. Trong khi đó, ở các bộ phận của toàn bộ Vịnh Bắc Bộ trong cuộc đàm phán của hai bên ngư dân phải sắp xếp thích hợp và hợp lý trong các hoạt động bình thường của Vịnh Bắc Bộ.

Ba đề xuất cơ bản của Tiền Kỳ Tham, Vũ Khoan đồng ý cho rằng các bên sẽ nhấn mạnh vào một giải pháp thương lượng với vấn đề phân định biển Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, để bảo vệ ngư dân Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ của các vấn đề hoạt động bình thường, Vũ Khoan nói rằng: Sau khi phân định Vịnh Bắc Bộ mở rộng có thể được coi là hoàn thành. BCT/BCH TƯ Việt Cộng tin tưởng một Vũ Khoan của Hoa Nam, trong khi ấy ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm cũng là người của Hoa Nam lại ngồi chơi xơi nước không được thông báo đàm phán Biển Đông.

Rõ ràng Tiền Kỳ Tham hướng dẫn Vũ Khoan hiểu thêm công thức đàm phán, bảo đảm việc hoạt động bình thường phân định Vịnh Bắc Bộ sẽ thuộc về Trung Quốc, Vịnh Bắc Bộ tự nó là một phần quan trọng của ngư dân Trung Quốc. Chuẩn bị cho các cuộc đàm phán tách rời ranh giới thủy sản Vịnh Bắc Bộ khỏi Việt Nam, Trung Quốc hy vọng phía Việt Nam nhượng bộ không quan tâm đến vấn đề thủy sản trong vùng Vịnh Bắc Bộ. Tiền Kỳ Tham nhấn mạnh rằng: – Mối quan tâm của Trung Quốc về các vấn đề thuỷ sản trong phạm vi nghiêm trọng, không thể  để các chi phí và  lợi ích của ngư dân bị phân giới cắm mốc cản trở.

Ngày 04 đến 11 tháng 3 1996, trong các bộ phận của Nhóm làm việc chung tại miền Bắc Vịnh Bắc Bộ, tiến hành vòng thứ sáu (6) cuộc đàm phán đã được tổ chức tại Bắc Kinh. Hai bên đã trao đổi sâu sắc quan điểm về các nguyên tắc bình đẳng, công bằng đã được xác nhận rằng sự phân chia cơ bản của Vịnh Bắc Bộ và nguyên tắc quan trọng nhất, đã đồng ý trao đổi ý kiến ​​của họ càng sớm càng tốt. Điều này làm cho các bộ phận ở phía Vịnh Bắc Bộ đàm phán một lần nữa đi đúng hướng.

Ngày 18 đến 23 tháng 9 năm 1996, Tiền Kỳ Tham là người đứng đầu phái đoàn chính phủ Trung Quốc, dẫn đầu một phái đoàn Trung Quốc đến Hà Nội tham gia tổ chức vòng đàm phán thứ tư (4) biên giới cấp Chính phủ.

Khủng khiếp cho Việt Nam bí mật xác định ranh giới Biển Đông.

Trong các cuộc đàm phán, Tiền Kỳ Tham sẽ tập trung vào quan điểm của luật pháp quốc tế, Trung Quốc giải trình về sự phân chia công bằng phía Việt Nam thu nhỏ lại tại vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Tiền Kỳ Tham chỉ ra rằng các mối quan hệ “chính trị tổng thể” ở phía bắc Vịnh Bắc Bộ phải cân bằng rộng rãi, những thực tế địa “chính trị” tạo thành phân giới cắm mốc nên được coi là cơ bản nhất của tình hình. Tạo cơ sở lợi ích lẫn nhau giữa hai nước và tuyên bố hàng hải trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ.

Tiền Kỳ Tham đề nghị rằng cả hai bên xem xét các nước láng giềng mà còn ở phía bắc bờ biển Vịnh Bắc Bộ chiều dài bờ biển đối diện hoặc ít hơn v.v…để đạt được các mục tiêu chung của việc cân bằng các lợi ích của cả hai bên. Mục đích của luật pháp là công bằng, thân thiện và chính trị, kinh tế hợp lý, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước.

Vũ Khoan cho rằng, ý tưởng của Trung Quốc đang phân định lại Vịnh Bắc Bộ theo trình bày toàn diện ở phần trên, Tiền Kỳ Tham còn hướng dẩn Vũ Khoan trung thực báo cáo với lãnh đạo Việt Nam. Sau đó, ông giải thích quan điểm của các bên. Ông nói rằng phía Việt Nam tin tưởng rằng việc phân định cần được cân nhắc đầu tiên là các yếu tố địa lý, bao gồm cả việc xem xét các yếu tố tự nhiên và địa lý đặc biệt.

Vũ Khoan cho rằng, Vịnh Bắc là biển và các động mạch giao thông quốc tế miền Bắc Việt Nam, có một tầm quan trọng sống còn đối với Việt Nam. Ông đề xuất rằng các phân định Vịnh Bắc Bộ, đảo Hải Nam, Trung Quốc không thể so sánh với đất liền Việt Nam.

Về vấn đề này. Ngay lập tức Tiền Kỳ Tham chỉ ra rằng Hải Nam là hòn đảo lớn thứ hai của Trung Quốc, đảo Hải Nam là một tỉnh của Trung Quốc. Nó là một hòn đảo ở toàn bộ Biển Đông, Vịnh Bắc Bộ nhưng tương đối, nó là một phần của lãnh thổ Trung Quốc và đất ven biển, theo pháp luật và trong qui định của thông lệ quốc tế, đảo Hải Nam trong việc phân định nên tính Việt Nam và Trung Quốc bằng bờ biển lục địa, tạo thành đại dương quyền cơ bản và hiệu quả phân chia bằng nhau.

Cuối cùng, Tiền Kỳ Tham hy vọng rằng phía Việt Nam một lần nữa nghiêm túc đề nghị phân định Vịnh Bắc Bộ theo giải pháp của Trung Quốc.

Trong vòng đàm phán này, hai bên đã nhất trí thành lập một nhóm chuyên gia doanh nghiệp thực hiện tham vấn không chính thức về các vấn đề liên quan đến các chương trình đường phân giới.

Ngày 18 tháng 9 năm 1996, Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Khoan và Tiền Kỳ Tham thường xuyên tổ chức tham vấn, về quan hệ song phương, khu vực và các vấn đề quốc tế trao đổi quan điểm. Đại hội Bộ Chính trị Trung ương Đảng thứ 19, đã gặp Phó Thủ tướng Trần Đức Lương và Tiền Kỳ Tham phái đoàn chính phủ Trung Quốc.

Tháng 4 ừ năm 1996 đến năm 1997, hai nước chia nhóm làm việc chung tại Vịnh Bắc Bộ đã tổ chức ba (3) vòng đàm phán, hai bên ủng hộ vùng Vịnh Bắc Bộ vấn đề đường phân định biển, cuộc trao đổi không chính thức về quan điểm, vì sự khác biệt lớn, các cuộc đàm phán thất bại trong việc không đạt được một bước đột phá.

Tháng 7 năm 1997, Đảng Trung ương Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm Bắc Kinh hội kiến với Đại biểu Ủy ban Ranh giới Nhậm Trần Công hội đàm tại “Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán” Bắc Kinh (Diaoyutai State Guesthouse), tập trung vào các bộ phận của những khó khăn phải đối mặt bởi vùng Vịnh Bắc Bộ và trao đổi quan điểm. Tiền Kỳ Tham phát biểu rõ ràng rằng; đàm phán là khó khăn để thực hiện một bước đột phá, chính là cả hai bên không thể đạt được mục tiêu cân bằng lợi ích của các thỏa thuận chung. Kể từ đó, tôi thay mặt cho các phái đoàn đứng đầu chính phủ Trung Quốc, được tổ chức vào năm 1997, được tổ chức ngày 13 tháng đến 15 tại Bắc Kinh “Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán” ở vòng thứ năm (5) của cuộc đàm phán biên giới cấp Chính phủ, cấp Phó tham vấn bộ trưởng ngoại giao.

Trong vòng đàm phán này, Việt Nam bắt đầu một hiệp ước biên giới trên đất liền, nhóm soạn thảo đã đạt được thỏa thuận. Về việc phân chia Vịnh Bắc Bộ, hai bên đã trao đổi ý kiến ​​không chính thức, đồng ý tối đa hóa sự đồng thuận, sự khác biệt nhỏ, và phấn đầu để di chuyển gần hơn với nhau, trong khi duy trì cơ chế tham vấn chính thức của Nhóm chuyên gia phân chia, phấn đấu để tìm một chấp nhận lẫn nhau với chương trình giới doanh thương.

Vào cuối cuộc đàm phán, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại Tiền Kỳ Tham gặp Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Khoan và đoàn tùy tùng của ông. Vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ thủy sản tham gia đang lo lắng về đầu.

Từ năm 1992 các cuộc đàm phán biên giới Trung-Việt kể từ khi khởi động lại, tôi đã nhiều lần nói về vấn đề này với phía Việt Nam nhấn mạnh rằng cả hai bên chia đàm phán để giải quyết phân định Vịnh Bắc Bộ và các vấn đề thủy sản cùng một lúc.

Trong các bộ phận của miền bắc Vịnh đàm phán trong suốt quá trình này, phía Trung Quốc có tàu vũ trang nhiều lần hơn trong Vịnh Bắc Bộ cướp công cụ sản xuất của ngư dân Việt Nam như  đã tuyên bố.

Cho đến giai đoạn cuối cùng của cuộc đàm phán, vấn đề này đã trở nên rõ ràng là trở ngại lớn nhất đối với phía trước các cuộc đàm phán, cùng hiểu được nhau, và để hiểu tại sao người Trung Quốc khẳng định phải được giải quyết phân định thủy sản các vấn đề cùng một lúc. Trong thực tế, chúng tôi chú trọng như vậy để sắp xếp thủy sản, vì vấn đề liên quan đến sinh kế của ngư dân, liên quan đến việc tiểu bang và chính phủ có trách nhiệm với nhân dân, là một vấn đề chính trị có ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội của địa phương.

Tuy nhiên, khi các nhà đàm phán Việt Nam không thể hiểu nổi tại sao phía Trung Quốc về vấn đề này đã luôn luôn nhấn mạnh.

Việt Nam bí mật xác định ranh giới lãnh thổ và lãnh hải.

Tháng 2 năm 1999, lần đầu tiên Tổng Bí thư Lê Kha Phiêu và Giang Trạch Dân có cuộc hội đàm, hai bên đã đạt được một sự đồng thuận vào ngày 5 tháng 5 năm 2000 để giải quyết phân định Vịnh Bắc Bộ mở rộng (bành trướng).

Tháng 12 năm 1999, Bộ ngoại giao Trung Quốc tham dự “Hiệp ước biên giới trên đất liền Trung-Việt” sau lễ ký kết, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Kha Phiêu trong cuộc họp đưa Việt Nam vào thế yếu nhất từ trước đến nay, từ một quan điểm chính trị, lãnh đạo không chú ý các vấn đề đánh bắt cá của nhân dân Việt Nam tại Vịnh Bắc Bộ càng không đề cập xem xét hay tham khảo. Giang Trạch Dân với Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã đưa vào “Phân định Vịnh Bắc Bộ đánh bắt cá của ngư dân Trung Quốc hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ và sắp xếp giải quyết rất ngoạn mục”.

Y kiến của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu phát biểu rằng:

– Vấn đề này, ông đã tham khảo ý kiến ​​một cách cẩn thận với các nhà lãnh đạo Việt Nam và sẵn sàng phản ứng tích cực. Ông nói tiếp: “Hai nước có thể nuôi trồng thủy sản ngay trong cuộc đàm phán về nghề cá tại Vịnh Bắc Bộ, đàm phán ngư nghiệp có thể được tiến hành đồng thời với việc đàm phán phân định Biển Đông.

Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, vị trí này là rất quan trọng đối với cả hai bên để kịp thời đưa ra ánh sáng màu xanh lá cây để bắt đầu cuộc đàm phán về thủy sản và phân định ranh giới cuối cùng của hai nước và các vấn đề nghề cá được giải quyết để tạo ra các điều kiện mới.

Trong các cuộc đàm phán, Trung Cộng-Việt Cộng quan hệ song phương, trao đổi trong khu vực và toàn diện của quan điểm về tình hình quốc tế, Trung Cộng thường đặt trọng tâm phân định Vịnh Bắc Bộ mở rộng. và hai bên phân chia theo tỷ lệ biển và khu vực đánh cá sắp xếp vấn đề cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc đưa ra vào năm 1995 phản ánh lợi ích của cả hai khái niệm chung cho sự cân bằng ranh giới, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã thực hiện cuộc trò chuyện tương tự, miễn là cả hai bên đều phù hợp với sự nhất trí của lãnh đạo hai nước, thực tế khám phá sớm các giải pháp những vấn đề này có thể được giải quyết từ lâu.

Trung Cộng lúc nào cũng chơi trội hơn Việt Nam cho rằng thẳng thắn nhưng thực chất cướp như đã thấy việc phân chia ranh giới Vịnh Bắc Bộ, Trung Cộng đặt ra ngư dân truyền thống ảnh hưởng công việc liên quan đến việc duy trì sự ổn định của khu vực Vịnh Bắc Bộ, câu cá đã trở thành một phần quan trọng của cuộc đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ mở rộng, đây là một vấn đề chính trị. Việt Nam hy vọng sẽ bắt đầu ngay sau khi các cơ chế đàm phán ngư nghiệp, vì vậy việc phân định Vịnh Bắc Bộ và các vấn đề nghề cá được giải quyết.

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Niên nói rằng ông đồng ý quan điểm của Trung Quốc về việc thúc đẩy các cuộc đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ, sẵn sàng làm việc với Trung Quốc để thúc đẩy đàm phán để cùng nhau đi về phía trước. Ông cho rằng, Việt Nam đã nhận thức đầy đủ về mối quan tâm của Trung Quốc đối với nghề cá, bên thủy sản có thể tạo thành một văn bản riêng, có chữ ký cùng lúc với các “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ”.

Tháng 4 năm 2000, trong khuôn khổ các cuộc đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ, Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu đàm phán với nhóm chuyên gia thủy sản. Nhưng Việt Nam đang làm việc với nhóm kỹ thuật tìm lý do trì hoãn, tham vấn nội dung đàm phán khác nhau với Trung Quốc.

Nguyễn Duy Niên bày tỏ sự sẵn sàng của họ để tham gia trong việc kêu gọi các phái đoàn chính phủ và các bộ phận của vịnh Bắc tăng cường nhóm làm việc song phương làm việc theo hướng và mục tiêu của hai nhà lãnh đạo để làm cho tốt các nỗ lực. Nguyễn Duy Niên và rõ ràng đã đồng ý và ký kết Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ Việt Nam và Hiệp định nghề cá.

1

Ngày 25 tháng 10 năm 2000, người đứng đầu phái đoàn Trung Quốc Vương Nghị (Wang Yi), người đứng đầu phái đoàn chính phủ Việt Nam Lê Công Phụng, tổ chức một cuộc họp không chính thức, đạt được một thỏa thuận sơ bộ về chương trình thí điểm Vịnh Bắc Bộ vẽ đường bản đồ, thực hiện một bước đột phá trong đàm phán.

Ngày hôm sau, Vương Nghị gặp Lê Công Phụng, cả hai người đứng chắc chắn nhất trí cuộc họp ngày mai quan trọng giúp hai bên phá vỡ bế tắc, khi các cuộc đàm phán mang lại một Biển Đông mở rộng hoàn toàn mới. Các chuyên gia hy vọng hai bên có thể làm việc phù hợp với sự nhất trí của hai nhà lãnh đạo tạo thành một hệ thống đường ranh giới chung cho Biển Đông. Vương Nghị cũng đã nói chuyện về mối quan tâm và quan điểm của mình về các vấn đề nghề cá. Vương Nghị bày tỏ hy vọng rằng các cơ quan chức ngoại giao của hai bên để cùng nhau thúc đẩy sự tiến bộ có thực chất trong việc đàm phán nghề cá, một “gói phần mềm” (tiền bán biển) tặng nhau để giải quyết phân định Vịnh Bắc Bộ mở rộng.

Ngày 21 tháng 11 năm 2000, Bộ trưởng Nguyễn Duy Niên, hy vọng sẽ thúc đẩy quá trình đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ, đặc biệt là quá trình đàm phán với các phân định liên quan thủy sản. Tiền Kỳ Tham cho rằng, trong giai đoạn thương lượng cuối cùng một thời điểm quan trọng, hai bên cần thúc đẩy mạnh mẽ các cuộc đàm phán chính trị, đặc biệt là những người có liên quan đến việc đàm phán Thủy sản và phân giới Vịnh Bắc Bộ, cắm mốc và ký kết trong năm để đảm bảo rằng các hiệp định và thỏa thuận nghề cá.

Trung Cộng thực hiện không muộn ngày 05 tháng 12 phân định lãnh hải và kết quả thực chất thủy sản, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Niên hy vọng với thể thúc đẩy các cấp chính trị, vào cuộc đàm phán đã ban hành hướng dẫn rõ ràng theo hướng thuận cho Trung Cộng. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Niên cho biết trong bài trả lời, các nhà lãnh đạo đảng có nhiều vấn đề hơn về việc thành lập “khu vực đánh cá chung” ở Vịnh Bắc Bộ, Trung Quốc đã có quyết định cùng với phía Việt Nam, sẵn sàng hợp tác với Trung Quốc, có một thái độ tích cực, để thảo luận về thỏa thuận thủy sản. Trong hai Bộ Ngoại giao, thúc đẩy các cuộc đàm phán cho các nhân viên chạy nước rút cuối cùng.

1

Ngày 12 đến 14 tháng 12 năm 2000, Vương Nghị (Wang Yi), người đứng đầu của Trung Quốc và Việt Nam Lê Công Phụng, cuộc họp chính thức lần thứ ba (3) được tổ chức tại Hà Nội. Sau hai ngày đàm phán gay go, thỏa thuận các vấn đề chính của phân định vùng biển Vịnh Bắc Bộ, hai bên đạt được một sự cân bằng giữa lợi ích chung và khu vực tổng thể của Vịnh Bắc Bộ.

Ngày 18 tháng 12, Nhóm làm việc chung trong vòng đàm phán mười bảy (17) cuộc tại bộ phận phía Vịnh Bắc Bộ, người đứng đầu phái đoàn chính phủ thực hiện sự nhất trí của hai nước xác định việc phân chia vùng lãnh hải của Việt Nam ở phía Vịnh Bắc Bộ, vùng đặc quyền kinh tế theo chương trình và thềm lục địa và tọa độ địa lý của tất cả các tầng lớp xã hội để các điểm của Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định phân định tất cả các văn bản thỏa thuận.

Cho đến nay, Trung Quốc và Việt Nam đàm phán vùng Vịnh Bắc Bộ mở rộng xem xét đầy đủ các tình tiết liên quan, dựa trên nguyên tắc công bằng, thông qua hiệp thương hữu nghị, để vượt qua những khó khăn, trải qua một giai đoạn khó khăn, hoàn thành cuối cùng của tất cả các cuộc đàm phán thực chất về phân định mở rộng Vịnh Bắc Bộ.

Ở phía Vịnh Bắc Bộ phân giới cắm mốc đã kết quả, trong khi nhóm chuyên gia ngư nghiệp hai bên giải quyết sau khi sắp xếp thủy phân, bao gồm cả việc xác định các nguyên tắc hợp tác lâu dài giữa thủy sản hai quốc gia (Ngư dân Việt Nam lệ thuộc hợp tác xã ngư nhiệp Ttrung Quốc), phân định hơn 30.000 km² của khu vực đánh cá chung qua biên giới và vùng chuyển tiếp, cùng nhau soạn thảo các văn bản của các hiệp định hợp tác nghề cá trong vùng mở rộng Vịnh Bắc Bộ.

Nhìn lại, việc phân chia Vịnh Bắc Bộ của cuộc đàm phán là rất khó khăn, xoắn và lần lượt, thăng trầm. Từ năm 1992 trở đi, phân định Vịnh Bắc Bộ có kinh nghiệm trước và sau tám năm (8) đàm phán. Trong tám (8) năm qua, hai bên đã tổ chức hai (2) cuộc đàm phán cấp chuyên viên, bảy (7) cuộc đàm phán cấp Chính phủ, đứng đầu phái đoàn chính phủ 3 cuộc thức thứ, 18 lần hỗn hợp Nhóm công tác phân định Vịnh Bắc Bộ, 3 lần chính thức đàm phán khẩn cấp, 6 nhóm chuyên gia ngư nghiệp họp bảy (7) lần. Mật độ cao của các cuộc đàm phán, độc đáo trong lịch sử ngoại giao Trung Quốc.

Ngày 24-25 tháng 12 năm 2000. Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân chính thức mời Chủ tịch Việt Nam Trần Đức Lương sang thăm Bắc Kinh. Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tổ chức các cuộc đàm phán chính thức. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao của “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ” (trung việt bắc bộ loan ngư nghiệp hợp tác hiệp định) và “Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ” (trung việt bắc bộ loan ngư nghiệp hợp tác hiệp định) có chữ ký của hai bên sớm. Sau cuộc hội đàm, hai nhà lãnh đạo đã tham dự một buổi lễ ký kết hai thỏa thuận. Lễ ký kết được tổ chức tại Hội trường của Bắc Kinh. Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Niên đại diện cho chính phủ Việt Nam đã ký “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về hợp tác trong lãnh hải Vịnh Bắc Bộ, vùng đặc quyền kinh tế và thỏa thuận phân định thềm lục địa” (trung hoa nhân dân cộng hòa quốc hòa việt nam xã hội chủ nghĩa cộng hòa quốc quan vu lưỡng quốc tại bắc bộ loan lĩnh hải, chuyên chúc kinh tể khu hòa đại lục giá đích hoa giới hiệp định).

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Hồ Diệu Bang và Bộ trưởng Bộ Thủy sản Tạ Quang Ngọc Việt Nam đã ký “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa của Hiệp định hợp tác Việt Nam Vịnh Bắc Bộ Thủy sản” (trung hoa nhân dân cộng hòa quốc chánh phủ hòa việt nam xã hội chủ nghĩa cộng hòa quốc chánh phủ bắc bộ loan ngư nghiệp hợp tác hiệp định). Sau khi ký kết hai thỏa thuận, mỗi bên phù hợp với pháp luật trong nước để thực hiện quá trình phê chuẩn. Ngày 25 tháng 6 năm 2004, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua kỳ họp lần thứ mười (X) “trong Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ” (trung việt bắc bộ loan hoa giới hiệp định). Trước đó, ngày 15 tháng 6, Quốc hội Việt Nam họp thứ lần mười một (XI) đã thông qua thỏa thuận.

Ngày 30 tháng 6 năm 2004, các cuộc đàm phán biên giới Trung-Việt, người đứng đầu phái đoàn Trung Quốc, Thứ trưởng Ngoại giao Vương Nghị (Wang Yi) và Thứ trưởng đứng đầu của phái đoàn chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao tại Hà Nội Vũ Dũng (Takeo) trao đổi “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ”? và phê chuẩn, hai Bộ Ngoại giao sẽ công bố hiệu lực “Hiệp định hợp tác nghề cá mở rộng Vịnh Bắc Bộ” trao đổi trả lời những vấn đề ghi chú. Cùng ngày, hai hiệp định đồng hiệu lực. Hai quốc gia sẽ trình bày riêng biệt “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ”, trước Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên cho đến nay chưa thấy phía Việt Nam trình bày những hiệp định trên, không biết vì lý do gì?

Quyết tâm của Việt Nam thực hiện được “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ” và ranh giới hàng hải. Hiệp định, các ranh giới vùng biển Vịnh Bắc Bộ, ngoài ra biên giới tự nhiên cửa sông Bắc Luân từ phía Nam tới phía bắc Vịnh theo thỏa thuận niêm phong khoảng năm trăm cây số 500 km.

Hòa giải với Trung Cộng để được mất nước.

Chuyển giao thế kỷ, thông qua các nỗ lực chung của cả Trung Quốc và Việt Nam, đã ký “Hiệp ước biên giới đất liền Trung-Việt” và “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ” giải quyết thành công được hai vấn đề lớn từ lâu đã cản mối quan hệ song phương. Điều này phục vụ các lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nước, có ý nghĩa sâu xa cho sự phát triển của quan hệ Trung-Việt.

“Hiệp ước biên giới đất liền” và “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ” đã thực sự hiệu lực, đánh dấu hai nước hòa bình, hữu nghị, ổn định biên giới đất liền, biên giới biển và hợp tác vào thế kỷ 21, còn làm phong phú thêm hai nước “ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, tình hữu nghị láng giềng tốt và hợp tác toàn diện” quan hệ ý nghĩa khuôn khổ (nô lệ), để thúc đẩy phát triển lành mạnh và ổn định theo quan hệ hai nước “anh em” trong thế kỷ mới, đặt một nền tảng vững chắc.

“Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ” đánh dấu sự ra đời của ranh giới hàng hải đầu tiên của Trung Quốc. Việt Nam thông qua tham vấn, giải quyết thành công vấn đề phân định biển giữa hai nước trong vùng Vịnh Bắc Bộ, hệ thống Biển Đông phù hợp với thực hành hiện đại.

Phân định Hải dương trong vùng  bành trướng Vịnh Bắc Bộ, nó cho thấy Trung Quốc với các nước láng giềng thông qua một quyết tâm đàm phán liên quan đến phân định ranh giới Biển Đông và chân thành, giúp tăng cường tin cậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và các nước láng giềng về hàng hải xung quanh, và thúc đẩy sự phát triển của mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng, quan trọng cho việc duy trì hòa bình và ổn định xung quanh lân bang.

Việt Nam kinh nghiệm để giải quyết biên giới đất liền và Vịnh Bắc Bộ tranh chấp phân định Biển Đông cho thấy rằng chỉ nhấn mạnh trên cơ sở luật pháp quốc tế, có sự tham khảo thông lệ quốc tế, tôn trọng lịch sử và mục tiêu thực tế, xem xét các lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nước, tư vấn bình đẳng, hiểu biết lẫn nhau, tìm kiếm công lý giải pháp công bằng và hợp lý để đạt được kết quả thắng-thắng.

Để đạt được kết quả thắng-thắng, các bên phải tôn trọng lịch sử và thực tế. Ở đây, sự tôn trọng lịch sử và tôn trọng sự thật khách quan không phải là mâu thuẫn nhưng mục đích bổ sung là phải hiểu các “lai long khứ mạch” của sự vật, sự hiểu biết tốt hơn về thực tế tình hình, làm rõ những khác biệt và tranh chấp và nội dung, tính chất và mức độ thực hiện bản đồ chính xác thuận lợi để tìm giải pháp ứng dụng thích hợp và thiết thực.

Huỳnh Tâm

Advertisements

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s